Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2022
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng
  • Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh
  • Lễ Phật Đản 2022 Vào Ngày Nào? Ý Nghĩa Lễ Phật Đản
  • Văn Khấn Lễ Phật Ở Chùa,van Khan Le Phat O Chua
  • Đề cập về Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông từ trước đến nay đã có không ít các bậc túc Nho, học giả cũng như nhiều tác giả quan tâm nói đến công lao và sự nghiệp của Trần Nhân Tông ở nhiều phạm trù. Đặc biệt mới đây, nhân kỷ niệm 710 năm (11-11-1308) ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt Niết bàn.

    Nhân dịp đầu xuân, đọc lại Tuyển tập thơ văn Lỳ – Trần, người viết bài này rất đồng cảm với tác gỉa Hoài Nam khi nhận định: “Nhìn lại lich sử mười thế kỷ của chế độ quân chủ Trung ương tập quyền Việt Nam, có thể mạnh dạn nhận định rằng, thời đại Lý – Trần là thời đại phát triển rực rỡ nhất với chiến công chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt và những thành tựu to lớn về chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế. Điều đáng nói ở đây là ở thời đại này là một dấu ấn tinh thần đặc thù in đậm trong lịch sử, một dấu ấn tinh thần rất khó gặp lại ở các giai đoạn sau – dẫu trình độ văn minh phát triển ngày càng cao hơn. Dấu ấn tinh thần ấy thể hiện ở hình ảnh những con người tràn đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng”.

    Thông qua lịch sử và tác phẩm thơ văn Lý – Trần, điển hình ở giai đoạn này, chúng ta thấy những bậc Hoàng đế đếu là những anh hùng cứu nước, là triết gia, là những Thiền sư lỗi lạc, là thi sĩ…Đại biểu cho tinh thần dung hợp giữa đời và đạo ấy, không ai khác đó là Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308): Người anh hùng đã lãnh đạo toàn dân hai lần kháng chiến chống Nguyên-Mông thắng lợi (1285 – 1288); người sáng lập Thiền phái Trúc lâm Yên Tử – đỉnh cao tư tưởng của Thiền học Việt Nam, một thi sĩ đặc sắc của văn học giai đoạn Lý – Trần.

    Với Trần Nhân Tông, nhìn từ lĩnh vực nào chúng ta cũng thấy tầm vóc lớn rộng khó có thể so sánh. Là người Việt Nam trong chúng ta không ai có thể quên hai câu thơ nổi tiếng của vua Trần Nhân Tông:

    ” Xã tắc bao phen chồn ngựa đá

    Non sông muôn thủa vững âu vàng”.

    Đây là hai câu thơ đầy khí phách tổng kết quá trình chiến thắng vĩ đại ghi lại chiến công hiển hách chống Nguyên-Mông của quân dân Đại Việt khi giải bọn tù binh tới và đọc trước lăng Trần Thái Tông. Với hai câu thơ cảm khái trên, ta thấy hồn thơ đầy khí phách và vững tin. Đây là những câu thơ Trần Nhân Tông viết khi còn tại vị.

    Đến khi xuất gia tu hành (8.1299), Sơ Tổ Trúc lâm khi đề cập về xuân chúng ta lại càng ngạc nhiên hơn bởi những bài thơ nội dung thấm đậm lẽ đời, lẽ đạo sâu thẳm cõi thiền, điển hình là bài “Xuân Vãn”. Với bài thơ này, theo Thiền sư Thanh Từ, đây là bài thơ ngắn chỉ có 4 câu, nhưng nội dung đã nói được lẽ đời, lẽ đạo thật đầy đủ và sâu sắc. Bài thơ này, trong mùa xuân trước chúng tôi đã có dịp giới thiệu. Nhận dịp đón xuân Kỷ Hợi năm nay, chúng ta lại cùng đến với một số bài thơ trong tuyển tập thơ văn Lý – Trần, trong đó có mảng thơ Thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

    Trước hết, chúng ta hãy đến với bài tuyệt thi có tựa đề “Xuân Cảnh”.

    Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì

    Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi

    Khách lai bất vấn nhân gian sự

    Cộng ỷ lan can khán thúy vi.

    Dich thơ:

    Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày

    Thềm hoa chiều rợp, bóng mây bay

    Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế

    Cùng tựa lan can nhìn núi mây.

    (Cảnh xuân – Nguyễn Huệ Chi dịch).

    Đọc hai câu đầu của bài thơ chúng ta thấy ngay kết quả tri giác cụ thể của con người trước thế giới: cái nghe (đó là điểu ngữ trì – chim hót chậm rãi) và cái nhìn (mộ vân phi – mây chiều lướt bay). Con người ở đây, có thể là chính tác giả, nhưng đó cũng có thể là “không ai cả”. Và ta chỉ thấy thiên nhiên xao động bộc lộ vẻ đẹp của mùa xuân một cách tự nhiên. Trên dòng trôi chảy của “nét xuân” ấy, ta thấy “khách” xuất hiện, một sự xuất hiện trong thầm lặng (bất vấn – không hỏi) nhưng hòa đồng (cộng ý – cùng dựa lan can) tức dựa vào cảnh vật. Và cuối bài thơ, ta gặp (thúy vi) đó là một mầu xanh của thiên nhiên mùa xuân bao trùm rộng khắp…giống như cái tâm thiền an lạc đang tràn ngập hồn người. Bài thơ chỉ miêu tả thôi, chứ không diễn giảng; ý thơ nhẹ nhàng mà có sức lan tỏa trước vẻ đẹp của thế giới tạo vật. Bài thơ “Xuân cảnh” có thể nói là bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nó không trực tiếp hoặc gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ thiền tông, hay Bí mật thiền tông như chúng ta thường thấy ở những bài kệ của các Thiền sư, mà nó thiên về bày tỏ cảm xúc thiền của người đạt đạo trước cái đẹp bản thể của thiên nhiên cũng như con người và cuộc sống.

    Bán song đăng ảnh mãn sàng thư

    Lộ trích thu đình dạ khí hư

    Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ

    Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.

    Dịch thơ:

    Đèn song chếch bóng, sách đầy giường

    Đêm vắng sân thu lác đác sương

    Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết

    Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương.

    (Trăng – Đào Phương Bình dịch)

    Phật hoàng Trần Nhân Tông trên sân khấu cải lương

    Là kẻ hậu học, đọc bài “Nguyệt” nói trên của Tổ Trúc lâm ta thấy ở đây không gian được phác lên trong bài thơ là không gian bao la khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ. đặc trưng cho cái “không” của thiền. Thời gian ở đây là thời điểm ban đêm của mùa thu; thời gian lặng tĩnh không truy tìm “bình thường tâm thị đạo” đây là phút giây bừng ngộ. và cái tâm của con người lắng đọng, gạt bỏ đi cái màn vô minh che phủ thường ngày, thì trong cái “không” thời điểm ấy, con người tỉnh giác (thụy khởi) với dư vang của tiếng chày nện vải (châm thanh). Tiếng chày không phải là thực tại – nói đúng hơn thì nó đã từng là thực tại của tàng thức theo (duy thức học). Và khi tiềm thức cũng bị minh sát, thì không gian trống không lại càng trở nên vô tận. Từ cái “tĩnh” mà cái “động” sinh ra: hình ảnh ánh trăng vừa ghé đến bông hoa hé nở giữa đêm khuya vừa là ảnh thực, vừa như một ẩn dụ bừng sáng của trí tuệ; giữa khoảng không bao la của vũ trụ – tâm hồn ấy, phải chăng đó là bản thể chân như.

    Địa tịch đài du cổ

    Thời lai xuân vị thâm

    Vân sơn tương viễn cận

    Hoa kính bán tình âm

    Vạn sự thủy lưu thủy

    Bách niên tâm ngữ tâm

    Ý lan hoành ngọc địch

    Minh nguyệt mãn hung thâm.

    Dịch thơ (Ngô Tất Tố)

    Lên núi Bảo Đài

    Đất vắng đài thêm cổ

    Ngày qua, xuân chửa nồng

    Gần xa, mây núi ngất

    Nắng rợp, ngõ hoa lồng

    Muôn việc nước trôi nước

    Trâm năm lòng nhủ lòng

    Tựa hiên nâng sáo ngọc

    Đầy ngực ánh trăng trong.

    Bài 1:

    Thùy phục cánh tương cầu giải thoát

    Bất phàm, hà tất mịch thần tiên?

    Viên nhàn, mã quyện, nhân ưng lão

    Y cựu vân trang nhất tháp thiên.

    Bài 2:

    Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

    Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

    Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

    Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

    Dich thơ:

    Bài 1:

    Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?

    Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên

    Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão

    Như trước, am mây chốn tọa thiền?

    Bài 2:

    Phải trái rụng theo hoa buổi sớm

    Lợi danh lạnh với trận mưa đêm

    Hoa tàn, mưa tạnh, non im ắng

    Xuân cỗi còn dư một tiếng chim.

    (Mạn hứng ở sơn phòng – Đỗ Văn Hỷ dịch)

    Đọc hai câu đầu của bài thơ thứ nhất, dưới dạng những câu hỏi phản biện, chúng ta thấy tác giả thể hiện một quan điểm phá chấp triệt để – phá cái chấp vào Phật và cái chấp của cả giải thoát (mang tính hình thức). Đây là cách của thiền nhằm làm rõ sự và lý để hướng người tu đến lộ trình giải phóng hoàn toàn tư duy cá nhân. Thật ra, đây là một quan điểm đã trở thành truyền thống mang nét đặc trưng cho tinh thần khai phóng của Thiền học Việt Nam thời Lý – Trần. Điều này ta có thể thấy trong thơ của các thiền sư trong giai đoạn này; song đặc biệt rõ nét nhất là ở thời Trần. “Thành được chánh giác ít khi dựa vào tu hành / Tu hành chỉ là sự giam cầm sự ưu việt của trí tuệ” (Cảm hoài 1). Hoặc trong thơ của Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (1230-1291) “Lông mày nằm ngang lỗ mũi nằm dọc / Phật và chúng sinh đều cùng một bộ mặt / Ai là phàm ai là thánh? / Tìm tòi trong nhiều kiếp cũng không thấy căn tính” (Phàm thánh bất dị). Nhưng ở Trần Nhân Tông, ta thấy dường như cách diễn đạt của cùng một nội dung đã trở nên uyển chuyển, nhu nhuyễn hơn, và dường như Trúc Lâm triển khai trong tác phẩm của mình với sự khế hội chân lý cũng khác.

    Đọc những tác phẩm của Trần Nhân Tông nói chung, trong đó có mảng thơ thiền, chúng ta thấy ở đây là “pháp tự nhiên” (thuận theo tự nhiên). Điều này bộc lộ rất rõ ở bài mà ta đang tìm hiểu, đó là bài thơ “Sơn phòng cảm hứng” thứ hai. Trần Nhân Tông nói đến hoa buổi sớm (triêu hoa), trận mưa đêm (dạ vũ) với những yếu tố thuộc về tự nhiên đã trỏ thành vật quy chiếu cho những yếu tố thuộc về con người: sự biện biệt cái đúng cái sai (thị phi niệm) suy nghĩ về danh và lợi (danh lợi tâm). Khi hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh, núi đã trỏ nên vắng lặng, thì một tiếng chim báo hiệu mùa xuân sắp hết: quy luật sinh diệt tất yếu của thế giới vô thường là như vậy, trên dòng chảy vô thường đó, con người chỉ có thể đạt tới sự an lạc tự tại khi hiểu rõ chân tướng của nó, thuận theo nó…Điều này theo Giáo sư Minh Chi trong cuốn Thiền học đời Trần đã cho rằng: “Thiền Trúc Lâm Yên Tử là lối thiền “Biện tâm”. Không ai khác đại biểu là cư sĩ Tuệ Trung Thượng Sĩ.

    Đọc và suy ngẫm những bài thơ của Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông chúng ta thấy, mặc dụ ở cương vị Hoàng đế (thiên tử) thời chế độ quân chủ tập quyền. Nhưng thơ Trần Nhân Tông tuyệt nhiên không có một chút “khẩu khí đế vương” như ta vẫn thấy ở các ông vua hay chữ cùng thời đó là: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông và gần đây là Tự Đức. Sự khác biệt này, khiến chúng ta thực sự kinh ngạc và kính phục, bởi sự viên dung giữa đời và đạo trong Tư tưởng của Sơ Tổ Trúc lâm.

    Những đánh giá nhận định và lạm bàn

    Theo “Toàn Việt thi luc”, “Thánh đăng ngữ lục” và “Lịch triều hiến chương loại chí”, trước tác của Trần Nhân Tông bao gồm: “Trần Nhân Tông thi tập”, Đại hương hải án thi tập”, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự”, “Thạch thất my ngữ” và “Trung hưng thực lục”. Tuy vậy, hiện chỉ còn tìm thấy của Trần Nhân Tông 31 bài thơ, một bài minh, một bài tán và hai bài văn nôm biền ngẫu. Về thơ, từ 31 tác phẩm còn lại có thể nhìn ra ở Nhân Tông hoàng đế hai cảm hứng cơ bản, tương ứng với hai mảng đề tài: thế sự và thiền. Mảng thơ Thiền của Sơ Tỏ Trúc lâm chính là một đặc phẩm, không phải chỉ riêng của Trần Nhân Tông, mà là của thi ca Việt Nam Trung đại nói chung. (Ngay cả mảng thơ thế sự) cũng rất đặc biệt.

    Trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông còn lại đến nay không nhiều, bộ phận thơ ca nói chung và thơ ca mang cảm xúc, cảm hứng Thiền trong đó lại càng ít hơn nữa. Nhưng đó là cái ít vô cùng cần thiết để hiểu cho rõ và cho đủ hơn về một nhân cách Văn hóa vĩ đại trong lịch sử dân tộc. (Xin nói thêm là trong toàn bộ lịch sử của chế độ quân chủ ở Đông Á, Trần Nhân Tông là trường hợp duy nhất mang diện mạo kép: vừa là Hoàng đế, vừa là Giáo chủ của một tông giáo). Qua một góc thơ Thiền, Trúc Lâm Sơ Tổ đã neo lại, và neo lại được trên dòng nước bạc thời gian một hình ảnh con người đạt Đạo, một con người vượt khỏi cái chấp vào Không và Có để nhập vào cuộc sống bình dị và có ý nghĩa sâu sắc nếu không muốn là vi diệu trong “cuộc đời này”; một con người tu dưỡng cái tâm hài hòa cùng mạch sống của Dân tộc: ăn, ngủ, làm việc đời – đánh giặc cứu nước, vinh danh nước Đại Việt lưu vào thiên cổ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng
  • Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?
  • Bí Ẩn 3000 Viên Xá Lợi Của Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Kỳ 2)
  • Phật Bốn Mặt Thái Lan Nguồn Gốc Và Sự Linh Thiêng
  • Thần 4 Mặt Thái Lan Ở Chùa Sùng Chính Quận 8 Tphcm
  • Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng
  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế
  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2022
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng
  • Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh
  • Tại sao các nhà tổ tại các chùa Việt Nam chỉ có thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma? Tại sao rất ít chùa Việt có thờ Tổ người Việt ? Chẳng lẽ Phật Hoàng Trần Nhân Tông không phải là vị tổ đáng kính của Phật giáo Việt Nam?

    Là một doanh nhân Phật tử tôi hay đi tham quan các chùa từ Nam chí Bắc. Rất nhiều chùa được xây đẹp, hoành tráng. Nhất là các chùa mới. Các chùa cũ giữ được cảnh quan tuyệt vời, tượng cổ, chuông mõ cổ thật uy nghi và linh thiêng. Các chùa phía bắc, ngoài chánh điện thường xây thêm nhà tổ để thờ các Tổ. Có điều lạ là rất ít nơi tại Việt Nam chúng ta thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông. Tôi cứ suy nghĩ hoài cả chục năm nay!

    Chúng ta ai cũng biết Phật Tổ Như Lai sinh quán tại vườn Lâm Tỳ Ni và đắc đạo tạo Bồ Đề Đạo Tràng. Ngài là con vua Tịnh Phạn đã quyết định xuất gia, từ bỏ tất cả để đi tìm con đường giải thoát. Đạo Phật được hình thành. Và đến 80% dân số Việt Nam ta là Phật tử và đều thờ cũng như tưởng nhớ đến công đức của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

    Chúng ta ai cũng biết, đất nước Việt Nam yêu quý có một vị vua tài ba Trần Nhân Tông cũng đã quyết định nhường ngôi cho con. Và cuối cùng Ngài vào núi tu. Tìm con đường giải thoát. Giác ngộ cho chính mình và là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo.

    Đích thân tôi đã đến Yên Tử quãng gần chục lần. Và có gần một nửa trong số đó là đi cáp treo. Nghĩ lại càng thấy hổ thẹn!

    Ngày đó vua Trần Nhân Tông, một người rất tài giỏi, nổi tiếng, đang sống trong triều với đầu đủ tất cả về vật chất và tinh thần, không thiếu thứ gì trên đời mà lại trèo lên núi cao, rừng thẳm để tu. Mà thời đó đường lên đâu có bậc. Thời đó từ chân núi leo lên đâu có dễ. Chỉ nghĩ riêng về việc trèo núi thôi đã thấy Ngài vĩ đại!

    Vua Trần Nhân Tông quyết định rời chốn đô thành về Yên Tử ẩn tu. Rừng núi hoang vắng, hoang thú không ít, khí hậu nơi rừng sâu đâu có dễ chịu. Tôi đã đứng trên núi và thấy rét run, mặc dù mặc bao quần áo trong người. Ấy vậy mà đức Vua của chúng ta tu ở đó 9 năm trời, đến khi nhập Niết Bàn. Ngài vĩ đại làm sao!

    Tôi đã từng tham gia các khóa tu thiền. Trong ngôi nhà giữa rừng với biết bao thiền sinh cùng tham dự mà ban đêm tỉnh dậy vẫn thấy sợ. Chợt nghĩ, nếu một mình trong rừng này, liệu có dám ở lại. Mà nếu không có nhà cửa đàng hoàng, chỉ 1 mái lều hay hang đá, chắc mình bỏ về ngay. Còn thời đó rừng còn xa lắm, vắng lắm, hoang lắm. Đức Vua của chúng ta đâu có được ngôi nhà tử tế để tu. Ngài sao mà vĩ đại đến vậy!

    Những gì Ngài đã để lại cho chúng ta ngày nay là quá nhiều. Di sản Phật giáo của Ngài vẫn còn đang hiện hữu khắp mọi miền đất nước. Cả 90 triệu dân Việt Nam tôn vinh. Hàng triệu người dân ngưỡng mộ. Công đức của Ngài quá bao la!

    Và Ngài cũng là người Việt Nam duy nhất trong lịch sử 4 ngàn năm lập ra trường trường phái thiền riêng của người Việt. Mà dòng thiền tuyệt vời này vẫn đang được duy trì đến tận hôm nay.

    Bao năm qua tôi cứ suy nghĩ về sự vĩ đại của một vị Vua. Một CON NGƯỜI quá vĩ đại! Tôi chưa nói đến việc Ngài đã tu đắc đạo mà chỉ muốn luôn cúi đầu lạy Ngài đã dám và quyết từ bỏ cuộc sống vương giả, đầy đủ để lên núi cao tu. Quyết tâm ba la mật của Ngài quá là bài hoc lớn, là tấm gương trời biển cho tôi và mỗi chúng ta noi theo.

    Trên thế giới này có mấy vị vua đã quyết định rời ngôi để xuất gia? Còn đất nước Việt Nam ta có 1 vị Phật Hoàng. Tấm gương của ngài sáng chói và chắc chắn đã vượt xa khỏi biên giới Việt Nam.

    Mà tại sao các nhà tổ tại các chùa Việt Nam chỉ có thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma? Tại sao rất ít chùa Việt có thờ Tổ người Việt của chính chúng ta? Chẳng lẽ Phật Hoàng Trần Nhân Tông không đáng được thờ tại các nhà tổ, tại các chùa Việt ư?

    Là người sơ cơ, mới tu tập chính thức hơn chục năm nay tôi cứ trăn trở một mình, không dám nói ra. Cứ nghĩ, chắc có nhiều điều quanh đây mà mình chưa hiểu hết. Chắc chắn có lý do của nó mà do mình vô minh không thấy. Thôi thì cứ mạo muội viết ra. Ít nhất để được nói ra trăn trở khó giãi bày. Rồi biết đâu, một ngày nào đó Phật Hoàng Trần Nhân Tông sẽ được thờ rộng rãi tại các chùa Việt Nam. Thậm chí tại nơi thờ tự của mỗi gia đình.

    Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng (Công ty sách Thái Hà)

    Nguyễn Mạnh Hùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Ẩn 3000 Viên Xá Lợi Của Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Kỳ 2)
  • Phật Bốn Mặt Thái Lan Nguồn Gốc Và Sự Linh Thiêng
  • Thần 4 Mặt Thái Lan Ở Chùa Sùng Chính Quận 8 Tphcm
  • Mua Tượng Phật Di Lặc Bằng Gốm Sứ Bát Tràng Ở Đâu Giá Rẻ Nhất
  • Những Điều Cần Biết Khi Bày Trí Tượng Phật Di Lặc Trong Nhà
  • Bí Ẩn 3000 Viên Xá Lợi Của Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Kỳ 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?
  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng
  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế
  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2022
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng
  • Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Anh, Ngọc cốt của Ngài được an trí vào lăng Quy Đức, 1 phần xá lợi giữ tại tháp Phật Hoàng ở Ngọa Vân, phần giữ tại Bảo tháp chùa Tư Phúc trong Đại Nội (cấm thành Thăng Long), sau đó được phân thành nhiều phần, lưu giữ nhiều nơi để nhân dân và Phật tử thờ phụng.

    Đức vua Trần Nhân Tông, người sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau khi nhường ngôi cho con, Ngài xuất gia tu hành khổ hạnh lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại sĩ. Cuối đời Ngài tu và hóa Phật tại am Ngọa Vân, được xưng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

    Ngay sau khi Phật Hoàng viên tịch, vâng theo di chúc Bảo Sát đã tiến hành hỏa thiêu Ngài ngay tại Am Ngọa Vân. Pháp Loa, tổ thứ hai của Thiền Phái Trúc Lâm đến tưới nước thơm lên giàn hỏa, thu được ngọc cốt và hơn 3000 viên ngọc xá lỵ.

    Ngọc cốt được an trí vào lăng Quy Đức (hay còn gọi là Đức lăng), một phần xá lỵ thu được lưu giữ tại tháp Phật Hoàng ở Ngọa Vân, phần còn lại được đưa về lưu giữ tại Bảo tháp chùa Tư Phúc trong Đại Nội (cấm thành Thăng Long), sau đó được phân thành nhiều phần lưu giữ ở nhiều nơi để nhân dân và phật tử thờ phụng, các nơi có lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng gồm:

    1. Phật Hoàng tháp tại Ngọa Vân: Am, chùa Ngọa Vân dưới thời Trần thuộc An Sinh vốn là đất thang mộc của An Sinh vương Trần Liễu, thời Lê thuộc xã An Sinh phủ Kinh Môn, nay thuộc thôn Tây Sơn, xã Bình Khê huyện Đông Triều.

    Tại Ngọa Vân, Pháp Loa cho xây bảo tháp Phật Hoàng (Phật Hoàng tháp) lưu giữ một phần xá lợi của ngài.

    Đến thời Lê Trung hưng (thế kỷ 18) tòa bảo tháp do Pháp Loa xây dựng bị đổ nát. Năm 1707 thiền sư Giác Hưng, hiệu là Viên Minh cho trùng tu xây mới tòa Phật Hoàng tháp bằng đá, phía trước tháp có voi đá và ngựa đá đứng chầu.

    Phật Hoàng tháp hiện vẫn còn đứng sừng sững uy nghiêm trên đỉnh Ngọa Vân, tháp 2 tầng, mặt trước khắc nổi bức đại tự Phật Hoàng Tháp (佛皇塔), trong lòng tháp đặt một bài vị bằng đá xanh, trang trí hoa lá và hình rồng, bài vị ghi “Nam mô đệ nhất tổ Trúc Lâm đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng Trần triều đệ tam Nhân Tông Hoàng đế Điều ngự vương phật – Nam mô a di đà phật, bài vị thờ Điều Ngự vương phật Đầu đà Tĩnh tuệ giác hoàng, tổ thứ nhất phái Trúc Lâm, vua thứ 3 triều Trần Hoàng đế Nhân Tông”. Như vậy, Phật Hoàng tháp chính là nơi lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng tại nơi ngài đã tu hành và hóa Phật.

    2. Bảo tháp ở Đức Lăng: Sách Đại Việt sử ký toàn thư và sách Tam Tổ thực lục đều cho biết:

    Ngày 16 tháng 9 năm Canh Tuất (1310) an trí ngọc cốt vào lăng Quy Đức (hay còn gọi là Đức lăng), lấy một phần xá lỵ đặt vào bảo tháp ở Đức lăng. Đức lăng được xây dựng trong khu lăng tẩm nhà Trần xưa thuộc đất Tinh Cương, phủ Long Hưng, nay là Thôn Tam Đường, xã Tiến Đức huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

    Khu lăng tẩm này có 4 lăng gồm Thọ lăng của Thượng hoàng Trần Thừa, Chiêu lăng của vua Trần Thái Tông, Dụ lăng của vua Trần Thánh Tông và Đức lăng (hay lăng Quy Đức) của vua Trần Nhân Tông và Khâm Từ Bảo thánh thái hoàng thái hậu.

    Các vua nhà Trần sau này không xây dựng lăng tẩm ở đây nữa mà chuyển về An Sinh (Đông Triều).

    Khu lăng tẩm nhà Trần ở Tam Đường hiện còn lại 3 gò mộ (lăng) cao to như quả đồi, các gò này được gọi là Phần Trung, Phần Đa và Phần Bụt (còn goị là Nấm Sỏi), mỗi Phần hẳn là một lăng, tuy nhiên cho đến nay chưa thể xác định các phần này là lăng của vị vua nào, nhiều người cho rằng Phần Bụt chính là Đức lăng với suy luận cho rằng Bụt chính là cách gọi khác của Phật vì vậy đây là lăng của Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

    Các cuộc khai quật thăm dò ở Phần Bụt đã tìm thấy những viên gạch xây tháp có trang trí hình rồng giống như loại gạch xây tháp đã được tìm thấy ở tháp Phổ Minh (Nam Định), và đó có thể là gạch xây bảo tháp của Đức lăng.

    3. Tháp Phổ Minh trong khuôn viên chùa Phổ Minh:

    Theo sử sách ghi lại, vào năm 1308, Kim Phật Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân trên ngọn Tử Phong – Yên Tử (theo Đại Việt Sử Ký toàn thư, kỷ Anh Tông). Sau đó ít lâu, con ngài là vua Anh Tông đã đem 7 trong số 21 hạt xá lợi đặt trong cỗ kiệu bát cống bằng đá rồi xây tháp Phổ Minh lên trên.

    Tháp cao 13 tầng, có mặt bằng hình vuông (5,20m x 5,20m), tầng thứ 11 là nơi đặt hòm xá lỵ của vua Trần Nhân Tông. Theo mô tả của sách Lịch triều hiến chương loại chí thì khi tiến hành trùng tu tháp “đã thấy cái hòm to, mở ra xem thì lớp thứ nhất là hòm bằng sắt, lớp thứ hai là hòm bằng đồng, lớp thứ ba là hòm bằng bạc, lớp thứ tư là hòm bằng vàng, lớp thứ năm là hòm bằng đá quý, trong để xá lỵ tròn bằng đầu ngón tay, sắc sáng long lanh, đã trả lại chỗ cũ…”

    Thư tịch thời Nguyễn như Nam Định dư địa chí, Hoàng Việt địa dư nhất thống chí, Đại Nam nhất thống chí đều cho biết vào thời Tây Sơn (khoảng năm 1789) có việc tháo dỡ 3 tầng trên của tháp thì gặp một chiếc hòm bằng đá, hòm đã giữ nguyên để xây lại như cũ. Những năm 80 của thế kỷ 20, khi tỉnh Nam Định tiến hành trùng tu lại tháp Phổ Minh cũng đã thấy hòm xá lỵ ở tầng 11 như mô tả của sử sách và hiện nay nó vẫn được tôn trí tại tầng 11 của tháp Phổ Minh. Đây là hòm xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông còn nguyên vẹn duy nhất hiện biết.

    4. Tháp Đại Thắng tư thiên bên hồ Lục Thủy:

    Tháp Đại Thắng tư thiên hay thường gọi là tháp Báo Thiên tòa tháp nổi tiếng được xây dựng năm 1057 dưới thời Lý Thánh Tông trong khuôn viên chùa Báo Thiên nằm phía Tây hồ Lục Thủy, nay thuộc khu vực Nhà Thờ lớn Hà Nội.

    Sách Tam Tổ thực lục cho biết “tháng 11 năm Kỷ Tị (1329), Sư (Pháp Loa-TG) lập đàn tràng tại viện Quỳnh Lâm, làm lễ điểm Nhãn tượng Phật Di lặc, và lấy một phần xá lỵ của Điều Ngự tại tháp Thắng Tư Thiên (Đại Thắng Tư thiên) đem cất vào tháp đá tại viện Quỳnh Lâm”

    Như vậy, trước đó xá lỵ của Phật Hoàng phải được đưa vào tôn trí ở Đại Thắng tư thiên và đến năm 1329 Pháp Loa lấy “một phần xá lỵ” đem về tôn trí ở tháp đá Viện Quỳnh Lâm và hẳn nhiên ở Đại Thắng tư thiên còn lại một phần xá lỵ.

    5. Bảo tháp chùa Tư Phúc trong Đại Nội Hoàng Thành Thăng Long

    Sau khi hỏa thiêu, ngọc cốt và xá lỵ của Điều Ngự được vua Trần Anh Tông rước về kinh thành. Ngọc cốt để vào bảo khám, xá lợi được chia làm hai phần để trong bình vàng quản tại chùa Tư Phúc trong Đại Nội.

    Chùa Tư Phúc là ngôi chùa rất nổi tiếng trong Cấm thành Thăng Long thời Trần, đây là nơi trước khi lên ngôi vua, Trần Nhân Tông thường đến ngủ trưa, một hôm vua mộng thấy trên rốn trổ một bông hoa sen vàng lớn như bánh xe.

    Chùa Tư Phúc cũng là nơi các vua và hoàng hậu nhà Trần đến tu hành, và nghe các tổ của Trúc Lâm giảng Pháp, có thể khẳng định chùa Tư Phúc là chùa giành riêng cho hoàng gia được xây dựng trong Cấm thành Thăng Long, giống như chùa Phổ Minh ở Phủ Thiên Trường, dấu vết chùa Tư Phúc hiện nay không còn, và chúng ta cũng chưa xác định được vị trí cụ thể của chùa trong tổng thể của Cấm thành Thăng Long.

    6. Tháp Tuệ Quang trên chùa Hoa Yên, núi Yên Tử:

    Huệ Quang Kim tháp (慧 光 金塔), hay Tuệ Quang tháp (慧 光塔), hay hiện nay được gọi là tháp Huệ Quang hoặc tháp Tổ là tháp lớn nhất được nằm ở khu vực trung tâm Vườn tháp tổ phía dưới chùa Hoa Yên trong quần thể di tích danh thắng Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

    Sách Tam tổ thực lục cho biết ngày 22 tháng 2 năm Bính Dần, niên hiệu Khai Thái thứ 3 (1326), Pháp Loa phụng chiếu của vua Trần Minh Tông đến chùa Hoa Vân (Hoa Yên) trên núi Yên Tử, tôn trí xá lỵ của Điều Ngự vào Kim tháp Tuệ Quang.

    Nhiều người cho rằng tháp này do vua Trần Anh Tông cho xây dựng, có thể như vậy, nhưng sau khi vua Trần Anh Tông mất sáu năm (vua Trần Anh Tông mất năm 1320) thì xá lỵ của Điều Ngự mới được an trí vào tháp, có lẽ lúc này tháp mới xây xong.

    Ngôi tháp hiện còn ở vườn tháp tổ ngày nay không phải là tòa tháp được xây dựng dưới thời Trần, tòa tháp này được xây dựng vào thời Lê, pho tượng Phật Hoàng đặt trong tháp cũng được làm vào thời Lê khoảng thế kỷ 16-17.

    Đại Việt sử ký toàn thưTam Tổ thực lục cho biết vua Trần Anh Tông có cho đúc hai pho tượng bằng vàng, một thờ ở chùa Siêu Loại (Gia Lâm), một thờ ở chùa Hoa Yên, nếu như đến năm 1326 tháp Tuệ Quang mới được hoàn thành thì rõ ràng tượng vàng do Trần Anh Tông đúc phải được thờ ở trong chùa Hoa Yên giống như ở chùa Siêu Loại chứ không thể được đặt trong tháp Tuệ Quang vì lúc đó tháp chưa hoàn thiện.

    Năm 1319, Pháp Loa tôn giả cho mở mang chùa thành Viện Quỳnh Lâm, dưới sự hỗ trợ về tiền bạc cũng như con người của vua Trần Anh Tông và các vương hầu, quý tốc nhà Trần.

    Đặc biệt Thuận Thánh Bảo từ Hoàng thái hậu (vợ vua Trần Anh Tông) và Trần Quang Triều, Quỳnh Lâm trở thành một Tự – Viện lớn gồm Chùa và Viện, trong đó Viện là nơi đào tạo tăng tài lớn nhất của Thiền phái Trúc Lâm và đây cũng là nơi có thư viện lớn lưu trữ nhiều kinh sách Phật Giáo.

    Tự Viện Quỳnh Lâm cũng là nơi thường xuyên lui tới của hoàng tộc nhà Trần và các quý tộc đương thời, nơi đây thực là chốn tùng lâm thế kỷ 14.

    Không chỉ có vậy, Quỳnh Lâm còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện Phật Giáo lớn do Hoàng gia và tổ Pháp Loa chủ trì, tháng 3 năm 1325 Pháp Loa tổ chức lễ hội nghìn Phật tại Quỳnh Lâm, lễ hội diễn ra trong 7 ngày 7 đêm đồng thời khơi công xây dựng hai tòa tháp để cung nghênh xá lỵ của Phật Hoàng về tôn trí tại chùa, năm 1329 tháp hoàn thành, rước một phần xá lỵ từ tháp Đại Thắng tư Thiên về tôn trí vào hai bảo tháp.

    Quỳnh Lâm viện nay là chùa Quỳnh Lâm, xã Tràng An huyện Đông Triều, mặc dù hai tòa tháp đã bị phá hủy nhưng những dấu ấn của nó vẫn còn lại trên và trong lòng đất của chùa, đặc biệt ở tòa tháp bát giác hiện dựng trước gác chuông chùa, hai tầng trên cùng của tòa tháp chính là phần còn lại của tòa tháp đá do tổ Pháp Loa cho xây dựng năm 1325.

    Hiện chùa còn lưu giữ 9 viên xá lỵ của Ngài. Trong chùa, gian chính điện đặt ban thờ Trần Nhân Tông.

    Từ khi vua Trần Nhân Tông đến đây, chùa Minh Khánh trở thành ngôi chùa nổi tiếng khắp vùng, được nhân dân ngưỡng vọng. Sự kiện này còn dấu tích trên bia “Minh Khánh Đại danh lam” khắc năm Hồng Thuận thứ 3 (1511): “Tiên triều vua Trần Nhân Tông đã tu hành ở đây mà huyết thư còn lưu, đương thời coi là “Tiểu Tây phương”.

    Một lâu đài quý báu nơi Trúc Quốc, sáng rực hoa soi. Lúc đó, đã có sư tiểu sớm hôm đèn hương, quét tước, nhân dân phụng thờ, tiếng tăm rộng khắp xa gần…”.

    Ngày vua Trần Nhân Tông viên tịch (1/11 âm lịch) được nhân dân lấy là ngày tổ chức lễ hội của chùa.

    Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rõ về việc thất thoát xá lị Phật hoàng:

    “Pháp Loa thiêu xác của Thượng hoàng được hơn ba nghìn xá lị mang về chùa Tư Phúc ở Kinh sư. Vua có ý ngờ. Các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Hoàng tử Mạnh mới 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lị ở trước ngực, đưa ra cho mọi người xem, kiểm lại trong hộp thì đã thấy mất một số hạt”.

    Ngoài ra, theo ông Nguyễn Bá Khoa, Trưởng phòng Văn hóa- Thông tin huyện Thanh Hà, trong hai đạo sắc phong của vua Vĩnh Khánh năm 1731 và Tự Đức 1880 hiện còn lưu giữ trong chùa đều có nói đến 9 viên xá lị Phật hoàng.

    Trong hồ sơ di tích chùa Minh Khánh được lập để đề nghị xếp hạng cấp quốc gia năm 1990 hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh cũng ghi: “9 viên xá lị, theo truyền thuyết và sắc phong đó là xá lị của Trần Nhân Tông”.

    “Ngoài sắc phong, trong hòm còn có một hộp gỗ tròn sơn đỏ. Mở hộp thì thấy bên trong có 9 hạt màu đen tro, có viên hình tròn, có viên hình gần tròn, to hơn hạt tràng, có lỗ xỏ. Riêng có một viên bị sứt một góc. Mọi người có mặt đều sửng sốt.

    Điều đó càng khẳng định 9 hạt xá lị được lưu giữ tại chùa Minh Khánh là xá lị Phật hoàng. Hiện 9 viên xá lị được nhà chùa và chính quyền nhân dân coi là bảo vật và gìn giữ cẩn thận, tôn nghiêm trong chùa.

    Sư thầy Thích Diệu Hiển cho biết, bà theo sư cụ về trụ trì tại chùa 26 năm trước. Ngay từ những ngày đầu bà đã nghe nói về sự quý giá của 9 viên xá lị Phật hoàng. Để bảo đảm an toàn, từ nhiều năm nay 9 viên xá lị được nhà chùa và chính quyền địa phương cất giữ, chỉ dịp đặc biệt hoặc lễ hội mới mở.

    Do công tác an toàn, muốn mở xá lị, phải có sự giám sát của chính quyền địa phương và phải làm lễ. Ông Nguyễn Bá Khoa, Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thanh Hà, cho biết: Việc giữ gìn 9 viên xá lị Phật hoàng được coi là nhiệm vụ quan trọng. Ngành văn hóa huyện đang dự kiến sẽ xây dựng một tháp gương đặt hộp xá lị vào đó để cho du khách thập phương và nhân dân viếng thăm.

    Vĩ thanh

    Như vậy, qua những ghi chép và những bằng chứng khảo cổ học hiện có có thể xác định hành trình tu luyện, nhập diệt theo thế sư tử nằm, phân phát xá lị đi khắp nơi của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông là một chuỗi công việc mô phỏng quá trình tu luyện, viên tịch và phân phát xá lị của Đức Phật Thích-Ca-mâu-ni.

    Trong chuỗi sự kiện đó thì Yên Tử là nơi Phật Hoàng tu luyện, giảng pháp, độ tăng và Ngọa Vân là nơi kết thúc trọn vẹn quá trình tu luyện và thành Phật của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, các nơi khác được lưu giữ xá lợi đều là những trung tâm lớn về chính trị, kinh tế hoặc tôn giáo dưới thời Trần.

    Trong số tám nơi được lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng thì riêng Tự – Viện Quỳnh Lâm có hai nơi chứa xá lỵ của Ngài.

    Đông Triều, Uông Bí ngày nay dưới thời Trần là đất An Sinh quê gốc của nhà Trần đồng thời là Trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nên có đến 4 điểm lưu giữ xá lợi của Phật Hoàng.

    Kỷ niệm 704 năm ngày Điều Ngự hóa Phật, thiết nghĩ việc quang bá tư tưởng và giá trị di sản của Ngài để lại là một việc làm cần thiết nhằm bảo tồn và phát huy các di sản của Ngài cho muôn đời mai sau.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phật Bốn Mặt Thái Lan Nguồn Gốc Và Sự Linh Thiêng
  • Thần 4 Mặt Thái Lan Ở Chùa Sùng Chính Quận 8 Tphcm
  • Mua Tượng Phật Di Lặc Bằng Gốm Sứ Bát Tràng Ở Đâu Giá Rẻ Nhất
  • Những Điều Cần Biết Khi Bày Trí Tượng Phật Di Lặc Trong Nhà
  • 1000 Năm Trước, Đức Phật Di Lặc Chuyển Sinh Cõi Nhân Gian Nhưng Người Đời Không Hay Biết
  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế
  • Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2022
  • Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng
  • Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh
  • Lễ Phật Đản 2022 Vào Ngày Nào? Ý Nghĩa Lễ Phật Đản
  • Bài kệ “Cư trần lạc Đạo” của Phật hoàng Trần Nhân Tông chỉ có 4 câu, 28 chữ, lời thơ giản dị nhưng chứa đựng đạo lý sâu xa, hầu như bao hàm cốt lõi, yếu chỉ của dòng thiền Trúc Lâm.

    Bài thơ dường như diễn dịch chính cuộc đời Ngài, dung nạp đại Đạo mà Ngài tham ngộ được, cũng là giáo lý cho đệ tử, bá quan văn võ, bách tính lê dân và người đời sau học tập, tu luyện.

    Nguyên văn:

    Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,

    Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.

    Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,

    Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

    Dịch nghĩa

    Sống ở cõi trần, vui với Đạo và tùy theo duyên

    Đói thì ăn, mệt thì ngủ

    Trong nhà sẵn của báu, đừng tìm đâu khác

    Đối với mọi cảnh vật mà vẫn giữ được cái tâm vô vi, bất động thì không cần phải hỏi về thiền.

    Dịch thơ:

    Cõi trần vui Đạo cứ tùy duyên,

    Đói bụng thì ăn mệt ngủ liền.

    Báu vật trong nhà thôi tìm kiếm,

    Đối cảnh vô tâm khỏi hỏi thiền.

    Cõi trần vui Đạo cứ tùy duyên

    Sơ Tổ thiền phái Trúc Lâm Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) tên thật là Trần Khâm, là con trai đầu lòng của vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thị Thiều.

    Ngay từ khi sinh ra, Ngài đã tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, nên vua cha và ông nội, cũng tức là Thái thượng hoàng Trần Thái Tông, đã gọi Ngài là Kim Tiên đồng tử.

    Sử sách chép rằng bên vai phải của Trần Khâm có nốt ruồi đen lớn như hạt đậu; người xem tướng đoán rằng hoàng tử về sau sẽ làm được việc lớn.

    Năm mười sáu tuổi được lập làm Hoàng thái tử, Ngài cố từ chối để nhường lại cho em mà vua cha không chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho Ngài, tức là Khâm Từ thái hậu sau này.

    Sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm Ngài vẫn thích đi tu. Một hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá, Ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp.

    Vị sư trụ trì ở đây thấy Ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm, Ngài bất đắc dĩ phải trở về.

    Ngài thường ăn chay nên thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do, Ngài trình thật với cha. Thánh Tông khóc bảo: “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự nghiệp của tổ tiên?”.

    Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt. Thế là Ngài theo cái duyên phận của kẻ làm con, tận chữ hiếu, dốc sức theo học đạo kinh bang tế thế, an lòng vua cha, kế nghiệp tổ tiên. Quả đúng là:

    Lòng vui với Đạo muốn xa đời

    Làm con chữ hiếu chẳng buông lơi.

    Xã tắc lâm nguy vai gánh vác,

    Trùng Hưng kỳ tích rạng muôn đời.

    Khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, Ngài với duyên phận và trách nhiệm của xã tắc đã đoàn kết quân dân, đích thân xông pha nơi mũi tên hòn đạn, cổ vũ khích lệ tướng sỹ, trên dưới một lòng nên đã hai lần đại phá quân Nguyên, giữ gìn trọn vẹn đất nước.

    Dưới sự trị vì của Trần Nhân Tông, hai cuộc hội nghị nổi tiếng được ghi vào sử sách là: hội nghị các tướng lãnh ở Bình Than, hội nghị những bô lão trong cả nước ở Diên Hồng để bàn mưu kế, tỏ quyết tâm chống giặc. Sách Việt Sử Tiêu Án chép rằng:

    “Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì tất là Vua thân hành ra ngoài trông coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào; khi ở trên bộ, khi ở thủy, không đóng nhất định ở đâu. Đó không phải là rát, là vì Vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ. Cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông pha, lính tráng đều là quân của nước, của nhà giàu là của nước, có cơ hội nào thì cổ động quân sĩ xông vào trước, gặp tình thế không may thì tùy tiện mà chống giữ; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được; nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến nỗi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến mà Vua lập tức đi ra ngoài, đó là kỳ kế, liệu sức giặc và tính cách đánh của nhà Trần”.

    Chiến công thần kỳ hai lần đại phá quân Nguyên Mông của quân dân Đại Việt đã chấn động bốn cõi, được Nguyễn Sưởng tóm tắt bằng câu thơ:

    Thùy tri vạn cổ Trùng Hưng nghiệp,

    Bán tại quan hà bán tại nhân.

    Dịch thơ:

    Đại nghiệp Trùng Hưng ngời vạn cổ,

    Nửa bởi non sông nửa do người.

    Làm tròn chữ hiếu của kẻ làm con, làm trọn đạo nhân nghĩa của bậc quân vương, lấy sinh mệnh đền ơn tiên tổ, trọn trách nhiệm của bậc trượng phu với sơn hà xã tắc, trọn nghĩa vụ của bậc thiên tử chăm lo cuộc sống bách tính lê dân, an cư lạc nghiệp sau những năm chiến tranh tàn phá, trọn trách nhiệm của bậc làm cha, dạy dỗ chỉ bảo cho hoàng tử khôn lớn, đủ tài đức gánh vác non sông.

    Năm 1299, Ngài rời khỏi danh lợi chốn hồng trần, lên Yên Tử nơi địa linh phúc địa, tẩy sạch tâm trần, theo cái duyên hằng mong mỏi, xuất gia tu luyện, trở về với tâm nguyện xa xưa, vững bước trên con đường phản bổn quy chân, về miền tịnh thổ.

    Sau khi khổ tu, khai ngộ, đắc Đạo, Ngài lại thuận theo cái duyên của bậc Giác Ngộ, giáo hóa văn minh cho bách tính lê dân, hoằng dương Phật Pháp khắp xa gần, trong và ngoài bờ cõi.

    Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó Ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng Tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng dạy mấy năm.

    Thiền phái Trúc Lâm vừa tiếp thu nền tảng Phật giáo Nam Á và thiền Đông Độ, vừa sử dụng các giá trị văn hóa Việt Nam và khuyến khích Phật tử cống hiến cho xã hội trên nền tảng Từ bi – Trí tuệ của Phật pháp. Ngài cũng xây dựng nhiều tự viện và đi giáo hóa trong cả nước, kể cả ở thôn quê lẫn thành thị.

    Trên cương vị là Thượng hoàng-Thiền sư, Ngài đã dạy dân bài trừ các hủ tục và tu dưỡng đức hạnh theo giáo pháp Thập thiện (mười điều thiện).

    Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến rồi ở đó. Bài dẫn của Trần Quang Chỉ trong tranh “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” đã mô tả về chuyến đi này rằng:

    “Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước…”.

    Cũng chính trong lần đi hoằng Pháp này, Ngài đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Để đáp lễ, Chế Mân xin nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt.

    Đến ngày mùng 1 tháng 11, đêm trời trong sao sáng, Ngài hỏi thị giả Bảo Sát:

    “Hiện giờ là giờ gì?”. Bảo Sát bạch: “Giờ Tý”. Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói: “Đến giờ ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đến chỗ nào?”. Ngài nói kệ đáp:

    Nguyên văn:

    Nhất thiết pháp bất sinh

    Nhất thiết pháp bất diệt

    Nhược năng như thị giải

    Chư Phật thường hiện tiền.

    Hà khứ lai chi liễu dã.

    Dịch thơ:

    Tất cả pháp chẳng sinh

    Tất cả pháp chẳng diệt

    Nếu hay hiểu như thế

    Chư Phật thường hiện tiền.

    Nào có đến đi vậy.

    Xong xuôi, Ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch, đó là vào niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), Ngài thọ năm mươi mốt tuổi.

    Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ nơi Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu-đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

    Trí huệ thiền Trúc Lâm

    Ban đầu Ngài xả bỏ hết danh-lợi-tình nhân thế, vào núi tu hành khổ hạnh, nhưng cuối cùng Ngài phát hiện ra, khổ hạnh lại là theo thái cực khác. Vậy nên Ngài đã theo con đường trung đạo, bỏ danh lợi tình, nhưng không ép xác tu khổ hạnh: “Đói bụng thì ăn mệt ngủ liền”.

    Và khi khai ngộ, đắc Đạo, Ngài thấy xuất gia tu hành cũng chỉ là hình thức, thực chất tu luyện là tu cái tâm: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”. Do đó Ngài khuyên hậu thế chớ theo gương Ngài tìm chốn núi sâu rừng già, tầm sư học Đạo, vân du chân trời góc biển làm gì. Thay vào đó, hãy tu chính cái tâm của mình, tìm lại Phật tính, tìm lại bản tính Thiện nguyên sơ của mình mà thôi.

    Ấy chính là:

    Bỏ tâm danh lợi chẳng khổ hạnh,

    Theo đường Trung đạo thuận theo duyên.

    Tìm Phật đâu cần đi góc biển,

    Tu tâm đoạn dục ấy là thiền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?
  • Bí Ẩn 3000 Viên Xá Lợi Của Phật Hoàng Trần Nhân Tông (Kỳ 2)
  • Phật Bốn Mặt Thái Lan Nguồn Gốc Và Sự Linh Thiêng
  • Thần 4 Mặt Thái Lan Ở Chùa Sùng Chính Quận 8 Tphcm
  • Mua Tượng Phật Di Lặc Bằng Gốm Sứ Bát Tràng Ở Đâu Giá Rẻ Nhất
  • Mách Bạn Văn Khấn Đổ Mái Nhà, Trần Nhà, Đổ Bê Tông Chuẩn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đưa Và Rước Ông Táo Về Nhà Trong Năm Kỷ Hợi 2022 Cực Chuẩn
  • ” Văn Khấn Đức Ông Ở Chùa Hương ” Khấn Tại Bàn Đức Ông
  • Bài Cúng Và Văn Khấn Đức Ông Tại Chùa
  • Văn Khấn Cúng Lễ Đức Ông Tại Chùa
  • Văn Khấn Âm Hán : Cúng Giỗ Tổ Tiên
  • Xây nhà là chuyện quan trọng của đời người, trong đó việc đổ mái rất quan trọng do vậy khi xây cất nhà cửa cần chú ý đến yếu tố tâm linh. Kitos Việt Nam mách bạn văn khấn đổ mái nhà, trần nhà, đổ bê tông chuẩn nhất.

    Khi nào cần sắm lễ cúng, văn khấn đổ mái nhà, trần nhà, đổ bê tông

    Trong quan niệm của người Việt Nam, thì lễ đổ mái nhà, trần nhà vô cùng quan trọng nhằm cầu mong việc xây dựng ngôi gia sẽ gặp những điều thuận lợi, sau cùng gia đình sẽ gặp đươc những mau mắn, tốt lành khi sinh sống trong tổ ấm mới này.

    Còn đối với những công trình lớn như căn hộ, thì chủ đầu tư tiến hành lễ đổ mái nhà, trần nhà nhằm cầu mong quá trình thi công sẽ gặp được nhiều thuận lợi, sau đó khách hàng sinh sống nơi đó sẽ gặp được nhiều may mắn, phát tài phát lộc.

    Khi tường nhà hoàn chỉnh, lễ cúng cất nóc nhà diễn ra trước khi đổ mái. Đây là một lễ cúng vô cùng quan trọng không thể bỏ qua khi xây nhà.

    Đối với lễ vật cho nghi lễ cúng nóc nhà thì các gia chủ nên chuẩn bị những lễ vật sau đây:

    Một bát gạo; Một bát nước

    Nửa lít rượu trắng; Bao thuốc, lạng chè.

    Một bộ quần áo Quan Thần Linh, mũ, hia tất cả màu đỏ, kiếm trắng.

    Một bộ đinh vàng hoa; Năm lễ vàng tiền.

    Năm cái oản đỏ; Năm lá trầu, năm quả cau.

    Năm quả tròn; Chín bông hoa hồng đỏ.

    Tuy nhiên tùy vào mỗi vùng sẽ có thêm những lễ vật cúng thêm nữa khác nhau.

    Mách bạn văn khấn đổ mái nhà, trần nhà, đổ bê tông chuẩn

    Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật, gia chủ có thể tự cúng lễ đọc bài văn khấn đổ mái nhà sau:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Đổ Mái Nhà Tầng 1, Tầng 2 Và Cách Sắm Lễ Cúng Cất Nóc, Đổ Mái
  • Bài Văn Khấn Đi Chùa Cầu Duyên Chuẩn Nhất Hiện Nay
  • Văn Khấn Đền Mẫu Đồng Đăng Lạng Sơn Và Lễ Vật Cần Chuẩn Bị
  • Bài Cúng Giao Thừa Trong Nhà Năm 2022, Văn Khấn Đêm Giao Thừa Mậu Tuất
  • Văn Khấn Giao Thừa 2022
  • Văn Khấn Lễ Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Đức Ông Khi Đi Chùa Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Đức Thánh Hiền Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lễ Chung Thất 49 Ngày Và Tốt Khốc 100 Ngày Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Đầu – Lễ Tiểu Tường Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Ngày Giỗ Hết Năm 2 – Lễ Đại Tường Chuẩn Nhất
  • Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    – Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

    – Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

    – Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

    – Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.

    – Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

    Hương tử con là: …..Ngụ tại: …..

    Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ….. Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    Nam mô A Di Đà Phật ! (lạy)

    Tham khảo: Văn Khấn Cổ Truyền – NXB Văn Hóa Thông Tin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Thánh Mẫu Liễu Hạnh Ngày 3 Tháng 3 Âm Lịch Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Mẫu Thượng Ngàn – Lâm Cung Thánh Mẫu
  • Văn Khấn Thần Thành Hoàng Khi Lễ Đình, Đền, Miếu, Phủ Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Bồ Tát Quan Âm Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Lễ Phật Chuẩn Nhất
  • Bài Văn Khấn Lễ Đức Thánh Trần

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bài Văn Khấn Mẫu Đi Chùa Đầy Đủ Và Chuẩn Xác Nhất Dành Cho Bạn
  • Văn Khấn Mượn Tuổi Làm Nhà Và Những Điều Cần Lưu Ý
  • Thủ Tục Nhập Trạch Lấy Ngày Khi Chuyển Nhà Mới
  • Văn Khấn Nhập Trạch Nhà Chung Cư Và Tầm Quan Trọng Của Văn Nhập Trạch
  • Bài Văn Khấn Nhập Trạch Chung Cư Đúng Chuẩn
  • Theo phong tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

    1. Ý nghĩa lễ Đức Thánh Trần

    Đức Thánh Trần là bậc tiền nhân đã có công với dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

    Ngày nay, người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn Thần đã có công với đất nước.

    Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các vị Thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện Đức Thánh Trần cùng các đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    2. Lễ vật và cách cúng lễ Đức Thánh Trần

    Theo phong tục cổ truyền khi xem ngày tốt xấu để đi lễ ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu, ta sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng.

    – Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

    Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

    – Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

    – Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

    – Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

    – Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

    – Lễ thần Thành Hoàng, Thư Điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

    3. Hạ lễ sau khi lễ Đức Thánh Trần

    Sau khi kết thúc lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự. Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá. Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính.

    4. Văn khấn lễ Đức Thánh Trần

    Nam mô A Di Đà Phật !

    Nam mô A Di Đà Phật !

    Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

    – Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

    – Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

    – Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

    – Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.

    – Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

    Hương tử con là: …………………..Ngụ tại: ……………….

    Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ….. Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    Nam mô A Di Đà Phật !

    Nam mô A Di Đà Phật !

    Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

    Văn khấn lễ Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát Văn khấn cúng lễ Ban Công Đồng Văn khấn cúng lễ Thánh Sư

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đền Mẫu Đồng Đăng Ở Đâu? Cần Lưu Ý Điều Gì Khi Sắm Lễ Dâng Lễ Đền
  • Bài Văn Khấn Tại Đền Cô Mười Đồng Mỏ Theo Chuẩn Văn Hóa Đạo Mẫu Việt Nam
  • Văn Khấn Tại Đền Cô Tám Đồi Chè Chuẩn Nhất
  • Văn Khấn Đền Đôi Cô Tuyên Quang
  • Văn Khấn Tứ Phủ Và Những Điều Cần Biết
  • Văn Khấn Ô Hoàng Mười

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Ô Hoàng 10
  • Văn Khấn Ô Hoàng Bảy
  • Ông Hoàng Bảy Bảo Hà, Văn Khấn Ông Hoàng Bảy
  • Văn Khấn Cây Hương Ngoài Trời Và Ý Nghĩa Của Việc Thờ Tiền Chủ
  • Hầu Đồng Là Gì? Ai Mới Có Thể Hầu Đồng?
  • Văn Khấn ông Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười, Bài Khấn ở Đền ông Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười Nghệ An, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Bài Khấn ông Mười, Văn Khấn ông Mười, Bài Khấn ông Hoàng 7, Văn Khấn ông Hoàng Bảy, Bài Khấn Đền ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng 10, Văn Khấn ở Đền ông Hoàng Bảy, Bài Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn Vua Cha Ngọc Hoàng, Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Mau Don Trinh Bai Cua Than Nhan Pham Nhan Ve Hoang Canh Kinh Te Kho Khan, Say Muoi, Mười Vạn Câu Hỏi Vì Sao Cho Trẻ Em, Quy Chuẩn Muối ăn, Phạm Quý Mười, Cách Muối Dưa Bắp Cải Rau Cần, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, Sự Tích Con Muỗi, Quy Trình ướp Muối Cá, Quy Trình ướp Muối, Quy Trình Làm Muối, Mẫu Hoa Điểm Mười, Quy Trình Muối Dưa, Truyện Ma Mười, Câu Thơ Gừng Cay Muối Mặn, Hướng Dẫn Muối Cà, Truyện Cổ Tích Con Muỗi, Bảy Mươi Tám Độ Minh Triết, Quy Trình ướp Muối Thịt, Bảy Mươi Tám Độ Linh Triết, Định Nghĩa Muối, Truyện Cười Con Muỗi, Muối ăn Công Thức Hóa Học, Muối ăn Tiêu Chuẩn, Chín Chúa Mười Ba Vua, Bí Quyết Muối Cà Giòn, Quy Chuẩn Kỹ Thuật Muối ăn, Mười Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới, Sổ Tay Chính Phục Điểm Mười, Mười Hai Học Thuyết Về Bản Tính Con Người, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Huyện Tháp Mười, Phân Tích Mười Sáu Câu Đầu Bài Trao Duyên, Giấy Đề Nghị Phun Thuốc Muỗi, Công Thức Lớp Muoi Hoc Kì Một, Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giê Sự Giáo Phận Hà Nội, Định Nghĩa Oxit Axit Bazo Muối, Câu Thơ Kết Tràng Hoa Dâng Bảy Mươi Chín Mùa Xuân Sử Dụng Phép Tu Từ Gì, 5 Tháng Mười Hai 2022 … Căn Cứ Thông Tư Của Bộ Quốc Phòng: Số 88/2017/tt-bqp Ngày 17/4/2017 Quy .., 5 Tháng Mười Hai 2022 … Căn Cứ Thông Tư Của Bộ Quốc Phòng: Số 88/2017/tt-bqp Ngày 17/4/2017 Quy .., Hãy Phân Tích Câu Tục Ngữ Đêm Tháng Năm Chưa Nằm Đã Sáng Ngày Tháng Mười Chư, Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Dân Quân Tự Vệ, 11 Tháng Mười Hai 2022, 11 Tháng Mười Hai 2022 … … Dục Chính Trị Theo Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân, 11 Tháng Mười Hai 2022 … … Dục Chính Trị Theo Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân, Bản Công Bố Thông Tin Về Việc Thoái Vốn Của Công Ty Cổ Phần Muối, Tháng Mười Hai 2022 … Quốc Phòng Quy Định Chương Trình Tập Huấn, Huấn Luyện Và Tổ Chức, 2 Tháng Mười Hai 2022 … Quốc Phòng Quy Định Chương Trình Tập Huấn, Huấn Luyện Và Tổ Chức … Căn C, 2 Tháng Mười Hai 2022 … Quốc Phòng Quy Định Chương Trình Tập Huấn, Huấn Luyện Và Tổ Chức … Căn C, Truyện Cổ Tích Sự Tích Con Muỗi, Hoàng Tử Bé, Hoàng Thị Hảo, Đáp An Lưu Hoằng Trí Lớp 7 Mới, Đáp An Lưu Hoằng Trí Lớp 7 Cũ, Dap An Bai Tap Anh 9 Cua Luu Hoang Tri, Bài Tập Lưu Hoằng Trí Lớp 9, Nữ Hoàng Ai Cập Tập 1, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 6, Nữ Hoàng Ai Cập, Sâm Đất Hoàng Sin Cô, Đáp án Bài Tập Anh 7 Lưu Hoằng Trí, Đáp An Anh 9 Lưu Hoằng Trí, Dap An Luu Hoang Tri 9, Dap An Luu Hoang Tri 8, Dap An Luu Hoang Tri 6, Đáp án Bài Tập Lưu Hoằng Trí Lớp 9, Dap An Bai Tap Anh 7 Luu Hoang Qui, Văn Bản ở Nơi Hoang Dã, Sổ Tay Dạy Dỗ Hoàng Đế, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 10, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 11, Đáp án Lưu Hoàng Trí 7, Bài Tập Lưu Hoằng Trí Lop 11, ở Nơi Hoang Dã, Lưu Hoàng Trí 58, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 9, Tam Thất Hoang, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 8, Đáp án Lưu Hoằng Trí Lớp 7, Tan Hoang, Đáp án Lưu Hoằng Trí, Hoàng Hậu Tái Hôn, Lưu Hoằng Trí 7 Key, Hoang Anh Son, Lưu Hoằng Trí 7 Đáp án,

    Văn Khấn ông Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười, Bài Khấn ở Đền ông Hoàng Mười, Văn Khấn ô Hoàng Mười, Bài Khấn ông Hoàng Mười Nghệ An, Văn Khấn Quan Hoàng Mười, Bài Khấn ông Mười, Văn Khấn ông Mười, Bài Khấn ông Hoàng 7, Văn Khấn ông Hoàng Bảy, Bài Khấn Đền ông Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng Bảy, Văn Khấn ô Hoàng 10, Văn Khấn ở Đền ông Hoàng Bảy, Bài Khấn ông Hoàng Bảy, Văn Khấn Vua Cha Ngọc Hoàng, Văn Khấn Quan Hoàng Bảy, Mau Don Trinh Bai Cua Than Nhan Pham Nhan Ve Hoang Canh Kinh Te Kho Khan, Say Muoi, Mười Vạn Câu Hỏi Vì Sao Cho Trẻ Em, Quy Chuẩn Muối ăn, Phạm Quý Mười, Cách Muối Dưa Bắp Cải Rau Cần, Từ Bi Tam Muội Thủy Sám, Sự Tích Con Muỗi, Quy Trình ướp Muối Cá, Quy Trình ướp Muối, Quy Trình Làm Muối, Mẫu Hoa Điểm Mười, Quy Trình Muối Dưa, Truyện Ma Mười, Câu Thơ Gừng Cay Muối Mặn, Hướng Dẫn Muối Cà, Truyện Cổ Tích Con Muỗi, Bảy Mươi Tám Độ Minh Triết, Quy Trình ướp Muối Thịt, Bảy Mươi Tám Độ Linh Triết, Định Nghĩa Muối, Truyện Cười Con Muỗi, Muối ăn Công Thức Hóa Học, Muối ăn Tiêu Chuẩn, Chín Chúa Mười Ba Vua, Bí Quyết Muối Cà Giòn, Quy Chuẩn Kỹ Thuật Muối ăn, Mười Tôn Giáo Lớn Trên Thế Giới, Sổ Tay Chính Phục Điểm Mười, Mười Hai Học Thuyết Về Bản Tính Con Người, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Huyện Tháp Mười, Phân Tích Mười Sáu Câu Đầu Bài Trao Duyên, Giấy Đề Nghị Phun Thuốc Muỗi,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nét Đẹp Lễ Cúng Ông Hoàng Mười Và Bài Văn Khấn Đầy Đủ Nhất
  • Tổng Hợp Văn Khấn Giao Thừa, Trong Nhà Ngoài Trời, Hương Linh Trong Tết Nguyên Đán
  • Văn Khấn Tổ Tiên Ngày Rằm Tháng Bảy
  • Ngày Đẹp, Văn Khấn Cúng Gia Gia Tiên Ngày Rằm Tháng 7
  • Văn Khấn Ông Bà Tổ Tiên Về Dự Ngày 30 Tết
  • Văn Khấn Cúng Lễ Đức Thánh Trần

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Khấn Đức Thánh Trần Cho Cả Năm Bình An, Nhiều Phúc Lộc
  • Chùa Chiền Việt : Ngôi Chùa Cổ Côn Sơn Kiếp Bạc Hải Dương
  • Hai Bài Văn Khấn Lễ Giao Thừa Năm Giáp Ngọ Của Chùa Một Cột
  • Chùa Chiền Việt : Chùa Quán Thánh Thờ Ai? Ngôi Chùa Cổ Tại Hà Nội
  • Tổng Hợp Bài Văn Khấn Cúng Ngày Vu Lan Rằm Tháng 7 Âm Lịch
  • Hướng dẫn cách sắm lễ và văn khấn Đức Thánh Trần chuẩn nhất theo cổ truyền Việt Nam để các bạn cùng tham khảo!

    Đức Thánh Trần là bậc tiền nhân đã có công trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đức Thánh Trần là tên thần hóa anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trong lịch sử, ông là vị anh hùng có công với đất nước. Bước vào huyền thoại – trong tâm thức dân gian – ông là vị thánh phù hộ cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước và giúp dân diệt trừ tà ma, chữa bệnh

    Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

    Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt , tín ngưỡng.

    Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

    Theo phong tục cổ truyền, xem ngày tốt xấu khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

    – Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

    Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu.

    – Lễ Mặn: Nếu Quý vị có quan điểm phải dùng mặn thì chúng tôi khuyên mua đồ chay hình tướng gà, lợn, giò, chả.

    – Lễ đồ sống: Tuyệt đối không dùng các đồ lễ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt tại các ban quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

    – Cỗ sơn trang: Gồm những đồ đặc sản chay Việt Nam: Không được dùng cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

    – Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

    – Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Phải dùng chay mới có phúc và những lời cầu nguyện được linh ứng.

    Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

    Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ sớ đem ra nơi hoá vàng để hoá.

    Hoá sớ xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

    – Con kính lạy Tứ phủ Công Đồng Trần Triều

    – Con kính lạy Nguyên Từ Quốc Mẫu Thiên Thành Thái Trưởng Công.

    – Con kính lạy Đức Trần Triều hiển thánh Nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương Đại Nguyên soái, Tổng quốc chính, Thái sư Hương phụ Thượng quốc công tiết chế, Lịch triều tấn tặng khai quốc an chính hồng đồ tá trị hiện linh trác vĩ, Minh đức trĩ nhân, Phong huân hiên liệt, Chí trung đại nghĩa, Dực bảo trung hưng, Thượng đẳng tôn thần, Ngọc bệ tiền.

    – Con kính lạy tứ vị Thánh tử đại vương, Nhị vụ vương cô Hoàng Thánh.

    – Con kính lạy Đức ông phạm điệu suý tôn thần, tả quan Nam Tào, Hữu quan Bắc Đẩu, Lục bộ thượng từ, chư vị bách quan.

    Hương tử con là:…………………..Ngụ tại:……………….

    Hôm nay ngày…. tháng….. năm……..âm lịch . Hương tử chúng con chấp kỳ lễ bái xin các vị phù hộ độ trì cho hương tử con cùng toàn gia quyến được luôn mạnh khỏe. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai quan nạn khỏi, điều lành mang đến, điều giữ giải đi, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an. Xin cho con được có người có cửa, được nhân an vật thịnh đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thuận buồn xuôi gió, vạn sự như ý.

    Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Khấn Đình La Khê Đầy Đủ, Chi Tiết
  • Văn Khấn Bia Bà Ở La Khê
  • Bài Văn Khấn Đức Thánh Bà
  • Tòa Tam Thế Chùa Bái Đính
  • Điện Quan Thế Âm Bồ Tát Chùa Bái Đính (Ninh Bình)
  • Văn Khấn Ông Hoàng Bơ

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Cúng Thôi Nôi Chuẩn Miền Trung
  • Tìm Hiểu Văn Khấn Bốc Bát Hương Gia Tiên Và Bà Cô Ông Mãnh
  • Cách Cúng Cầu Siêu Và Bài Văn Khấn Cho Các Vong Hài Nhi
  • Bài Văn Khấn Bốc Bát Hương Gia Tiên Và Bà Cô Ông Mãnh
  • Bài Cúng Ông Bà Tổ Tiên Và Bàn Thờ Gia Tiên Đúng Nhất
  • Ông hoàng bơ là một trong ba vị Ông Hoàng hay về ngự nhất. Khi giá ngự đồng, ông mặc áo trắng (có thêu rồng kết uốn thành hình chũ thọ), thắt đai vàng, đầu đội khăn xếp có thắt lét trắng, cài chiếc kim lệch màu trắng bạc. Có khi ông ngự về tấu hương, khai quang rồi một tay cầm mái chèo, một tay cầm quạt thong thả bẻ lái dạo chơi, cũng có khi ông cầm đôi hèo hoa, rong ruổi cưỡi ngựa đi ngao du sơn thủy.

    Đền thờ chính: Đền thờ Ngài ở Thanh Hóa gần đền cô Tám. Đền thờ chính của Ngài là ở trên núi nhìn ra biển ở cửa Cờn, ngày nay người ta chuyển thành thờ ông Hoàng Chín, Đền Hưng long và đang được hưng công tại Thái Bình. Ông Hoàng Bơ không giáng sinh lên trần phàm nên không có đền thờ riêng. Ông thường được coi là ngự trong Đền Lảnh Giang (cùng với Quan Tam Phủ) và Đền Đồng Bằng (kề cận bên Đức Vua Cha Bát Hải).

    Chi tiết bài văn khấn ông hoàng bơ

    Trên điện ngọc rồng bay năm sắc

    Dưới Động Đình ghềnh thác nguy nga

    Mênh mông một dải giang hà

    Ầm ầm sóng vỗ xa xa bạc đầu

    Loài thuỷ tộc đâu đâu tìm đến

    Vượt vũ môn xuất hiện thần long

    Biến lên mặt nước lạ lùng

    Ông Hoàng Bơ Thoải chân dung khác thường

    Ông Bơ Thoải đường đường dung mạo

    Mặt nhường gương tiết tháo oai phong

    Thanh xuân một đấng anh hùng

    Toàn tài văn võ lầu thông mọi đường

    Sáng tựa gương trần ai chẳng bụi

    Bầu rượu tiên thơ túi xênh xang

    Khăn thêu áo trắng đai vàng

    Võ hài chân dận vai mang đôi hèo

    Cưỡi ngựa bạch vai đeo cung tiễn

    Tay kiếm vàng trước điện bước ra

    Thương dân trên cõi Sa Bà

    Lòng tham chìm đắm đức hoà khó lên

    Trước bệ ngọc Hoàng liền tấu đối

    Lên cõi trần mở hội phúc duyên

    Khâm sai Hoàng kíp băng miền

    Phong lôi một trận nổi lên cõi phàm

    Bạn tiên nữ xếp hàng rong ruổi

    Cá kình nghê thẳng lối tiễn đưa

    Sai quân dưỡng trực lên bờ

    Trống dong cờ mở thực là nghiêm trang

    Sắp hai hàng càng vàng tán tía

    Kiệu vàng son nghi vệ bát âm

    Tuần vương nghỉ gót dừng chân

    Hoạ thơ Lý Đỗ ca ngâm đọ cờ

    Tiệc xong lại chèo đua bẻ lái

    Truyền chèo về Bát Hải dong chơi

    Quỳnh Côi,Phượng Dực mấy nơi

    Sông Thao,sông Cả qua chơi Lục Đầu

    Chơi khắp hết sông Cầu sông Mã

    Truyền ba quân các ngả thi đua

    Lên rừng lấy gỗ chò hoa

    Đem về dâng tiến vua cha Động Đình

    Ngự Bắc kinh,Thăng Long quý địa

    Phủ Tây Hồ tú khí danh lam

    Dừng thuyền bái yết Mẫu Vương

    Mẫu ban chấp chính cầm quyền vào ra

    Cho coi sóc các toà cung nội

    Riêng một bầu phượng ruổi loan ca

    Đông Cuông, Tuần Quán các tòa

    Cây cao bóng mát rườm rà tốt tươi

    Đàn cá lội rõ mười không khác

    Kết thành lầu dàn dặt đêm thanh

    Trăng soi đáy nước thuỷ đình

    Có thoi Hoàng thoải xinh xinh khác thường

    Thoi sáng ánh kim cương lấp lánh

    Biết bao người mến cảnh say sưa

    Trách ai vô ý không ngờ

    Qua không bái yết thực là khó van

    Ai biết phép gia ban tài lộc

    Độ cho người văn học thông minh

    Hoàng về trắc giáng điện đình

    Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Khấn Chuyển Ban Thờ Gia Tiên
  • Bài Văn Khấn Vong Linh Thai Nhi Cầu Siêu Tại Nhà
  • Cách Cúng Xe Ô Tô Mới Mua Đúng Cách Nhất Mang Lại Bình An May Mắn
  • Bài Văn Khấn Giỗ Tổ Dòng Họ Được Sử Dụng Nhiều Nhất
  • Bài Văn Khấn Cúng Ông Thần Tài Thổ Địa Hàng Ngày Giúp Phát Tài Phát Lộc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×