Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Văn Khấn Phật Thích Ca Mâu Ni Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top Like | Herodota.com

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Bài Khấn Phật Dược Sư

Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa) là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca – thuộc Ấn Độ ngày nay, sinh vào khoảng năm 624 TCN.

Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Gau-ta-ma), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ.

Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử: là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca – thuộc Ấn Độ ngày nay, sinh vào khoảng năm 624 TCN.

Thời niên thiếu, Đức Phật sống một cuộc đời hoan lạc. Ngài lập gia đình và có một người con trai, tuy nhiên, lúc hai mươi chín tuổi sau khi nhìn thấy cảnh khổ đau của những người già, bệnh tật và qua đời cùng vẻ ung dung thanh thản của 1 vị tu sĩ, thái tử Tất Đạt Đa phát tâm rời khỏi hoàng cung, tu học Phật quả. Cho đến vợ đẹp con yêu, Ngài cũng đành từ giã để đi tìm hạnh phúc chân thật cho chúng sanh đang đau khổ. Cử chỉ của Ngài ra đi nhắc nhũ cho muôn loài biết rằng hạnh phúc không thể tìm trong danh vọng tài sắc, và những người thật thương yêu chúng sanh phải tìm chơn lý để soi sáng cho chúng sanh. Ngài ra đi là cả một sức mạnh quyết tìm chơn lý, và chơn lý chỉ đến với những tâm hồn cao cả thoát tục, tràn đầy một lòng vị tha không bờ bến.

Thích Ca Mâu Ni đã đi đến rất nhiều nơi xa xôi để truyền bá Phật Giáo đem đến cho con người sự cứu rỗi. Bên bờ sông Câu Thi Na, Ngài cùng các đệ tử dùng một bữa ăn được dâng lên bởi một người thợ rèn. Sau đó, Ngài cảm thấy không được khỏe. Vào đêm trăng tròn đúng tháng sinh của mình, năm 483 TCN, Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy đệ tử lần cuối trước khi nhập Niết Bàn.

Ngài là người sáng lập ra đạo Phật, một trong những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay. Tượng Phật là biểu tượng của Phật giáo, mang ý nghĩa tín ngưỡng và tâm linh, theo đạo Phật. Phật thích ca là vị Phật chuyên cứu hóa chúng sinh lầm than, phổ độ chúng sinh, cứu giúp, chỉ lối soi đường cho chúng sinh có cuộc sống hạnh phúc. Thờ phụng tượng Phật đã trở nên rất phổ biến ở khắp mọi nơi. Chúng ta có thể dễ dàng thấy ở những nơi tôn nghiêm như ngôi chùa, đền, tu viện trên khắp thế giới. Gia chủ thường thờ cúng trong nhà hoặc những nơi tôn nghiêm với mong muốn may mắn hạnh phúc mang đến điều tốt lành cho gia chủ. Thờ Phật để tỏ lòng biết ơn Ngài đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường sáng suốt, để luôn nhìn thấy gương sáng của Ngài, với các đức tính từ bi, trí tuệ, thanh tịnh, từ đó nhắc nhở chúng ta làm điều thiện, không làm việc sai trái.

Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh

Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích

Thỉnh Phật Bà Quan Âm Tại Gia Và Những Điều Cần Lưu Ý

Hướng Dẫn Cách Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Thờ Tại Gia

Phải Thỉnh Tượng Phật Về Thờ Như Thế Nào Mới Đúng?

Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Bài Khấn Phật Dược Sư

Chúng Ta Hiểu Sai Về Đức Phật Di Lặc Như Thế Nào

Là Phật tử khi thực hành quy y Phật, bạn cần hiểu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Thầy gốc của chúng ta. Ngài là bậc giác ngộ thấu rõ chân lý của vạn pháp, thị hiện trong hình tướng của loài người, đi vào cõi Sa bà đề khai sáng Ánh đạo vàng cho nhân gian.

Năng nhân

“Nhân” ở đây là nhân đức, nhân từ, và “năng” là năng lực, sức mạnh. “Năng nhân” có nghĩa là “sức mạnh của lòng từ bi”. Sức mạnh này đã trở thành một năng lực vĩ đại để Đức Phật có thể cứu khổ cho chúng sinh một cách vô ngã. Đối với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tình thương mà Ngài dành cho chúng sinh luôn bình đẳng, và trở thành sức mạnh có thể chuyển hóa được khổ đau cho chúng sinh, giúp chúng sinh đạt được giác ngộ.

Trong Kinh kể rằng, một đời trước của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài từng là một vị Thái tử. Trong một lần vào rừng, Ngài nhìn thấy năm mẹ con hổ đang vật vã vì đói. Hổ mẹ quá đói và không còn sữa cho con bú nên kiệt sức chờ chết. Chứng kiến cảnh đó, Thái tử rất đau lòng và muốn bố thí luôn thân mạng của mình cho hổ đói. Ngài đã đưa đầu mình vào miệng hổ nhưng do đã quá kiệt sức nên hổ mẹ cũng không ăn nổi. Ngài bèn dùng dao rạch thân thể mình cho máu chảy ra đầm đìa. Lúc rạch thân mình như vậy Ngài phát ra lời nguyện: “Trong kiếp này tôi dùng thân máu thịt để bố thí cho năm mẹ con hổ, và mong rằng trong kiếp vị lai khi thành Phật, tôi sẽ dùng tuệ mạng để cứu cho các vị thoát khỏi luân hồi!”. Khi phát nguyện xong, máu từ thân Ngài chảy ra đầm đìa và hổ mẹ liếm được máu đó mới có sức để ăn thịt Ngài. Trong kiếp sau này khi Ngài thành Phật, năm mẹ con hổ đói chính là năm anh em ông Kiều Trần Như, năm đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Khi Ngài vừa thành Phật, người đầu tiên Ngài độ và chứng qua A la hán chỉ sau một bài pháp về Tứ diệu đế của Ngài chính là năm anh em ông Kiều Trần Như.

Lòng từ bi của Ngài đã trở thành năng lực để Ngài có thể thị hiện vô số thân, bất cứ nào cầu đến là Ngài có thể cứu khổ. Sức mạnh của lòng từ bi đã khiến cho Đức Phật dù trong bao nhiêu kiếp cũng không nhàm mỏi cứu độ chúng sinh. Trong kinh Bồ Tát Giới, đích thân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Ta đã tám nghìn lần đến thế giới Sa bà”. Đức Phật đã đến cuộc đời của chúng ta từ vô thủy kiếp, không nhàm mỏi mặc dù vừa dẫn chúng sinh ra con đường sáng, chúng sinh đã vượt khỏi tay Ngài chạy về con đường tối. Nhưng sức mạnh của lòng từ bi vẫn khiến Ngài có đủ am nhẫn để dẫn dắt cứu độ chúng sinh.

Lời tán thán Đức Phật

Tịch mặc

“Tịch mặc” ở đây có thể hiểu là “trí tuệ”. “Tịch” là có trí tuệ thấu đáo ngoại cảnh. “Mặc” là có trí tuệ để đối diện chính nội tâm mình. Trong cuộc sống, những thành bại, thịnh suy, vinh nhục đều không làm dao động được Đức Phật. Bằng chứng là Ngài đã tu khổ hạnh 6 năm trong núi tuyết. Trong 6 năm ấy, Ngài đã đối diện với đói, rét, với lời chê bai, chọc tức. Tới mức độ chim đến làm tổ trong tai Ngài vẫn ngồi bất động. Khi Ngài chứng được thần thông, Ngài còn nghe thấy tiếng chim cãi nhau trong tai nhưng Ngài vẫn không bất động. Còn chúng ta thì luôn làm nô lệ cho ngoại cảnh, nô lệ cho cái thân này. Chúng ta ham ăn, ham ngủ, ham thụ hưởng tức là chúng ta đang làm nô lệ cho cái thân và ngoại cảnh.

Cảnh thịnh thì chúng ta vui, cảnh suy thì chúng ta buồn. Chúng ta giống như những con rối trên sân khấu cuộc đời: “Tâm mình là con rối – để cho đời sớm tối giật dây”. Còn Đức Phật, trong 6 năm tu tập, mỗi bữa Ngài chỉ ăn một hạt mè. Dĩ nhiên cái đói khát đó không dẫn Ngài đến sự giác ngộ nhưng cũng phải chứng minh được nghị lực kiên cường của Ngài.

Hạnh phúc thay Đức Phật đản sinh

Đức Phật ra đời là sự kiện hy hữu như hoa ưu đàm ngàn năm mới nở

Trong kinh Đức Phật dạy rằng: “Chiến thắng trăm quân chưa phải là chiến công oanh liệt. Người chiến thắng chính mình mới là người oanh liệt nhất”. Trong cuộc sống thế gian, có thể chúng ta đánh gục rất nhiều đối thủ trên thương trường, trong cơ quan nhưng lại không đánh gục được ham muốn. Người anh hùng nhất là người chiến thắng được chính mình. Khi đối trước mọi biến động của ngoại cảnh, tâm Ngài vẫn bất động cho nên chúng ta gọi Ngài là Tịch.

Chữ “Mặc” mang nghĩa nội tâm. Trong đêm thành Đạo của Đức Phật, khi đó có đủ các loại ma: ma sân, ma tham, ma danh vọng, ma ái… xuất hiện. Gọi là ma không phải là ma bên ngoài mà chính là trạng thái tâm của người trước khi thành đạo. Nhưng Đức Phật không để các trạng thái tâm như tham-sân-giận-ghét-ái dục-vô minh chi phối. Kinh Mười hai nhân duyên có vẽ hình ảnh một bà già mù còng lưng dẫn dắt chúng ta, không phải một kiếp mà hàng bao nhiêu kiếp. Bà già đấy trong Kinh gọi là Vô minh. Bà già ấy đã mù nhưng lôi chúng ta hết kiếp này sang kiếp khác, quanh quẩn trong sáu đạo luân hồi không ra khỏi được.

Lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban trải khắp cứu độ muôn loài, trí tuệ của Ngài rực sáng để bình lặng trước cuộc đời. Như vậy danh hiệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gồm cả hai khía cạnh Từ bi và Trí tuệ. Đức Phật nào cũng sẽ có đủ hai phần như vậy. Cả cuộc đời của Ngài là tấm gương sáng về Từ bi và Trí tuệ. Là đệ tử của Phật, chúng ta phải thừa hưởng được gia tài Ngài để lại cho chúng sinh, đó không phải là kho báu thế gian thông thường mà chính là Từ bi và Trí tuệ. Gia tài ấy mỗi chúng ta đều có nhưng vì chúng ta quên mất không biết sử dụng nên chúng ta vẫn mãi quanh quẩn trong vòng khổ luân hồi mà thôi!

Hạnh hiếu của Đức Phật

Theo: dibaothapmandalataythien.org

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh

Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích

Thỉnh Phật Bà Quan Âm Tại Gia Và Những Điều Cần Lưu Ý

Hướng Dẫn Cách Thỉnh Phật Bà Quan Âm Về Thờ Tại Gia

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Bài Khấn Phật Dược Sư

Chúng Ta Hiểu Sai Về Đức Phật Di Lặc Như Thế Nào

Sự Tích Đức Phật Di Lặc

1000 Năm Trước, Đức Phật Di Lặc Chuyển Sinh Cõi Nhân Gian Nhưng Người Đời Không Hay Biết

Những Điều Cần Biết Khi Bày Trí Tượng Phật Di Lặc Trong Nhà

Lịch sử của đức Phật từ trước đến này vốn không có sự đồng nhất. Có nơi lạm dụng văn chương hoa mỹ, có phần quá đáng. Vì vậy đối với vấn đề chân tướng của ngài ngày nay chúng ra cũng rất khó để xác định rõ về hình trạng. Nay chúng tôi chỉ lấy phần tương đối thuật lại đôi nét cơ bản cuộc đời của đức Phật.

Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sinh của đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng Năm Dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng phật tử khắp thế giới. Đức Phật sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak, vào buổi sáng, trong thành Kapilavastu (Ca-ty-la-vệ) gần biên thùy giữa đông bắc Ấn Độ và Népal. Đó là Thái tử Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng đế Tịnh Phạn (Cuddhodana) họ Cù Đàm (Gotama) và mẹ của Ngài là Hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gotama.

Mẹ của ngài, là hoàng hậu Ma Da, trong một kiếp quá khứ khi còn là một thiên nữ ở cung trời Đâu Suất, đã cầu nguyện tha thiết rằng: “sau này bà sẽ được tái sinh nơi cõi người và trở thành người mẹ sinh hạ ra một vị Phật”.

Hoàng hậu Ma Da là người mẹ vĩ đại nhất với lời nguyện cầu tha thiết trong tiền kiếp đã sinh ra thái tử Tất Đạt Đa. Bà là người phụ nữ cao quý nhất đã có công sinh ra một bậc vĩ nhân kiệt xuất của nhân loại, để chúng ta có được đạo Phật mà nương theo, có được Chính pháp mà tu tập, hướng đến sự giác ngộ và giải thoát ra khỏi luân hồi sinh tử.

Trong dòng tộc Thích Ca, vua Tịnh Phạn là người đứng đầu gia tộc và cũng là người đứng đầu trị vì đất nước, nơi ấy ngày xưa gọi là nước Ca Tỳ La Vệ thuộc phía Nam. Vua Tịnh Phạn kết hôn cùng với công chúa Ma Da là người em gái của Vua Thiện Giác dòng tộc Câu Lợi ở phương bắc. Hoàng hậu Ma Da là bậc mẫu nghi của nước Ca Tỳ La Vệ, dung mạo tuy không phải là tuyệt thế, nhưng tâm hồn bà trong sáng như hoa sen. Bản thân hoàng hậu cũng thường làm việc bố thí và cứu giúp những người nghèo khổ ở khắp nơi, khiến cho người dân trong nước ai ai cũng đều mến phục đức hạnh của bà.

Từ khi kết hôn cùng với vua Tịnh Phạn đã trải qua hơn hai mươi năm vẫn chưa có thái tử để nối ngôi. Vì thế hoàng hậu thường khuyên vua Tịnh Phạn làm nhiều điều hiền thiện, tạo phúc cho dân. Thế rồi, cho đến vào một đêm vắng lặng, lúc thiếp đi, trong một giấc mơ, bà thấy có con voi trắng sáu ngà từ không trung bay đến, đi vào hông bên phải của bà. Hoàng hậu giật mình tỉnh giấc, kể lại giấc mộng. Các quan đại thần đều đoán rằng đây là điềm lành, chắc chắn hoàng tộc sắp có tin vui. Quả nhiên, từ đó hoàng hậu mang thai Thái tử. Vua Tịnh Phạn rất vui mừng cùng thần dân mơ tiệc ăn mừng.

Hoàng hậu mang thai đã được mười tháng, sắp đến ngày hạ sinh, bà xin phép vua cho Hoàng hậu về nhà mẹ đẻ để hạ sinh theo đúng phong tục thời bấy giờ. Vua Tịnh Phạn đã đích thân dẫn đoàn tùy tùng đi hộ tống Hoàng hậu về quê hương. Hôm đó là ngày trăng tròn theo lịch Ấn Độ, gió tháng Tư hiu hiu thổi, khí trời ấm áp. Khi đoàn người đi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni tại vươn quốc Ca Tỳ La Vệ, ngày nay thuộc nước Nepal (thuộc thành kapilavastu) cảnh vật nơi đây rất tuyệt đẹp, mọi người ai cũng thấy dễ chịu. Hoàng hậu cho dừng kiệu để vào vườn nghỉ ngơi một chút. Lúc này là mùa xuân, hạ giao mùa, trong vườn Lâm Tỳ Ni hoa đang nở rộ, muôn chim đua hót. Hoàng hậu ngồi cạnh hồ nước chiêm ngưỡng cảnh vật thiên nhiên, rồi bà đứng dậy dạo quanh vườn hoa, đến cây hoa vô ưu có cành lá sum suê nở rộ. Hoàng hậu đưa tay lên định ngắt lấy một nhành hoa, bỗng ngay lúc ấy Thái tử chào đời. Lúc ấy nhằm ngày mồng 8 tháng 4 (ÂL).

Ngay sau đó có một cơn mưa nhẹ sau đó đã gội rửa cho cả người mẹ và hoàng tử. Cùng ngày đó, bảy sinh mệnh khác cũng được xuất sinh, lần lượt là cây bồ đề, công chúa Da Du Đà La (Yashodhara), con ngựa Kiền Trắc (Kantaka), người đánh xe ngựa Sa Nặc (Channa), con voi Kaludayi (người bạn thời thơ ấu của hoàng tử), và bảy kho báu vô chủ.

Hoàng tử được đưa trở về kinh thành ngay đêm hôm đó. Năm ngày sau, hoàng tử được đặt tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), nghĩa là “người mà sẽ đạt được mục đích của mình”. Rất nhiều nhà thông thái đã đến để gặp mặt và cầu chúc cho vị hoàng tử mới sinh, trong số đó có đạo sĩ A Tư Đà, vốn là thầy dạy học cũ của nhà vua và là một người tu hành khổ hạnh đã đạt được nhiều thành tựu.

Nhà vua cảm thấy rất vinh dự bởi chuyến thăm của đạo sĩ A Tư Đà (Asita), nên cho người mang đứa trẻ đến bên vị đạo sĩ để đứa bé tỏ lòng tôn kính với ông. Ngay lập tức, đạo sĩ A Tư Đà đứng dậy và nhận ra ngay những đường nét trên cơ thể hoàng tử báo hiệu một khuynh hướng tâm linh và tôn giáo. Với năng lực siêu thường, ông nhìn thấy sự vĩ đại trong tương lai của vị hoàng tử mới sinh và chào đón với những cái siết tay thật chặt.

Nghe thấy như vậy đức Vua Tịnh Phạn vô cùng sung sướng với ý tưởng con trai mình sẽ trở thành một thủ lĩnh vĩ đại. Do đó, nhà vua vô cùng chiều chuộng con trai, để ngăn ngừa Thái tử nhìn thấy những điều khiến cậu chuyển sang khuynh hướng tôn giáo. Mọi người biết về dấu hiệu này đều biết rằng Tất Đạt Đa rất xuất chúng, đặc biệt là Tịnh Phạn Vương. Nhưng nhà vua quan sát sự trưởng thành của đứa con trai nhỏ tuổi ham hiểu biết và lo lắng về những lời tiên tri. Ông lo ngại, một ngày nào đó, Thái tử sẽ rời bỏ Hoàng cung và trở thành một nhà lãnh đạo tôn giáo, chứ không trở thành một thủ lĩnh của bộ tộc Thích Ca.

Sau khi hạ sinh được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời, để lại vị trí của bà cho người em gái tên là Kiều Đàm Di (Mahaprajapati), thay thế hoàng hậu san sóc nuôi dưỡng hoàng tử với sự yêu thương, chăm sóc hết mực. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng trí tuệ của hoàng tử đã vượt người tầm thường, tất cả các học thuyết của thế gian như: kỹ nghệ, điển tích, văn chương, thiên văn, lịch số, và các môn võ nghệ như bắn cung, đua ngựa…sức khỏe hơn người, không có bất kỳ môn nào mà hoàng tử không thông suốt, khiến mọi người đều kính nể không ai là không hàng phục. Trên từ đức vua Tịnh Phạn dưới đến dân thường, tất cả mọi người đều yêu mến và cho rằng sau này hoàng tử sẽ là người chinh phục bốn phương, thống nhất bờ cõi. Khi đó nhà vua đã cho gọi các nhà hiền triết đến để dự đoán tương lai của hoàng tử. Họ đều nói rằng hoàng tử Tất Đạt Đa sẽ quyết định theo lối tu hành khổ hạnh nếu hoàng tử nhìn thấy các dấu hiệu của sinh, lão, bệnh, tử hoặc gặp một nhà tu hành khổ hạnh.

Đến năm 19 tuổi Hoàng tử kết hôn với công chúa Da Du Đà La và hạ sinh được một người con đặt tên là La Hầu La. Tuy thân ở tại trần gian nhưng tâm hoàng tử không nhiễm dục lạc, mọi quan niệm và cảm tính đều hoàn toàn khác với thế tục. Sau những lần hoàng tử dạo chơi bốn của thành nhìn thấy cảnh tượng giữa người và vật tranh giành với nhau, tang tóc, rên rỉ, khổ đau…Hoàng tử suốt đêm không ngủ ngồi tư duy, đem lòng thương chúng sinh phát khởi mạnh mẽ, luôn nghỉ đến nỗi khổ đau của chúng sinh những nơi Ngài đi qua. Đây là động lực chính khiến Ngài phát sinh tu đạo.

II. NGÀY XUẤT GIA VÀ THÀNH ĐẠO

Ngài trưởng thành trong một cung điện xa hoa. Khi còn thơ ấu, đặc quyền đã cho phép ngài hưởng thụ mọi sự nuông chiều. Nhưng, một ngày, Ngài đã từ bỏ tất cả để có được trí tuệ tận cùng. Khi Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường, có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có già, có bệnh. Có bao nhiêu vinh hoa, phú quý, khoái lạc vật chất dẫy đầy trước mắt chẳng qua là một bã hư vô, Ngài mới nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu là sự thật, đâu là tịnh lạc. Sau khi quan sát và cảm thông về nổi khổ đau cùng cực của chúng sinh. Vào nửa đêm mồng 7 tháng 2 lúc mọi người an giấc nồng bốn bề yên tỉnh, hoàng tử bèn sai người giữ ngựa tên là Xa Nặc đánh ngựa kiền trắc vượt khỏi cung thành đến phía đông nước Lamma vào rạng sáng mùng 8 tháng 2, ngài đã cởi bỏ mũ báu cùng áo cẩm bào cạo bỏ râu tóc trở thành vị Sa môn. Năm ấy Ngài 29 tuổi, từ biệt ra đi đã dũ sạch nợ trần, để đi tìm một con đường giải thoát cho nhân loại.

Suốt sáu năm khổ hạnh, hy sinh, chịu đựng muôn ngàn đau khổ với một tấm lòng sắt đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức phàm khó lòng chịu nổi. Ngài ngày đêm siêng năng chiến đấu ma quân nhưng chỉ nhọc nhằn không đạt được kết quả. Ngài nhận thấy pháp tu khổ hạnh chỉ là nhọc công vô ích, bèn xuống sông Ni Liên Thiền tắm gội thọ bát sữa của nàng Tu Xà Đề dâng cúng khi thọ dụng bát sữa xong sức khỏe lần hồi phục, Ngài đã thấu suốt các pháp thế gian và đã dứt trừ các pháp đó, rồi một mình thẳng tiến đến cây Tất Bát La kết tòa ngồi kiết già và phát nguyện rằng: “tôi không chứng quả vị vô thượng bồ đề thì dù có tan thân mất mạng quyết không rời khỏi chỗ này”. Sau khi phát nguyện xong Ngài nhập vào kim cang định, dùng lực kim cang tam muội chặt đứt vô minh của chi đầu tiên trong 12 nhân duyên, tức là ngài đã giải quyết xong vô minh đoạn trừ sinh tử ưu bi khổ não không còn nữa.

Vào ngày 8 tháng 12, sao mai vừa ló dạng thì Ngài đã dứt sạch sinh tử, nhập vào trạng thái an tĩnh chứng đắc quả vị Chính Đẳng, Chính Giác. Quả này là kết tinh cuối cùng của một lòng tự tin, tự lực, tự giác, chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp đỡ. Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại cảnh đối với thân tâm để trở thành thanh tịnh chứng pháp, lĩnh hội rõ ràng chân tính của một sự vật: Ngài đã là Toàn Giác, thành Phật. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi. Từ đó người ta gọi Ngài là đức Phật Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng Phật quá khứ và vị lai. Như vậy vị trí của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thật là độc nhất vô nhị, ngay trong tiền kiếp của thời hiện đại của chúng ta, và ở trong thế giới mà hiện chúng ta đang sống. Từ nơi vị trí Phật độc nhất vô nhị này, trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I trang 29 nói rõ thêm rằng:

“Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có đặt ngang hàng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A La Hán, Chính Đẳng giác; một người này khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng bậc Tối thắng giữa các loài hai chân”.

Trước tiên, chúng ta cần nhấn mạnh đến vị trí có một không hai của đức Phật, vị trí này cho chúng ta thấy không thể có một đức Phật thứ hai trong suốt hiền kiếp đức Phật tại thế, vị trí này còn giúp chúng ta nhận rõ những đóng góp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho nhân loại, cho thế giới này thật là đặc biệt vô song, có vậy, chúng ta mới đánh giá đúng đắn sự xuất hiện rất đặc biệt của vị Bổn sư của chúng ta.

Cho nên trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I, trang 37 ghi chép: “Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được trong một thế giới có hai vị A La Hán Chính đẳng giác, không trước không sau, xuất hiện một lần. Sự kiện này không xảy ra. Và sự kiên này có xảy ra, này các Tỳ kheo. Trong một thế giới, chỉ có một vị A La Hán Chính đẳng giác, xuất hiện, sự kiện này có xảy ra”.

Trong kinh Hoa Nghiêm có đoạn viết: “Sau khi thành đạo ngài cảm thán nói rằng: Lạ thay! Lạ thay! Nào hay tất cả chúng sinh đều có đầy đủ đức tính trí huệ Như Lai, bởi do ngu si mê hoặc mà không thấy không biết… Ta nay sẽ đem thánh đạo giáo hóa khiến cho chúng sinh dứt hẳn vọng tưởng, một khi vọng tưởng dứt trừ tất sẽ chứng được vô lượng trí tuệ của Như Lai.”

Như vậy thì lễ Vesak không những là kỷ niệm ngày Giáng sinh mà cũng là ngày đắc đạo của đức Phật. Khi đã được hoàn toàn sáng suốt và đắc quả Chính Đảng, Chính Giác rồi, Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải thoát chúng sinh bằng một lối đường Trung Đạo.”Mở rộng cửa chân lý cho những ai muốn tìm chân lý; rót thẳng niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm niềm tin tưởng.” Đó là câu bất hủ mà ngài đã thốt lên lần đầu tiên, khi bắt đầu xứ mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.

Sau khi thành đạo, ngài liền đi đến vườn lọc uyển xứ Ba La Nai tìm các vị đồng tu với ngài trước đây để thuyết pháp. Đức Phật vì năm anh em Kiều Trần Như (1- Kiều Trần Như; 2- Kiều Trần Na; 3- Kiều Trần Nhi; 4- Kiều Trần Thi; 5- Kiều Trần Nga) nói bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế. Ngài dạy người xuất gia có hai thứ chướng ngại là sinh tâm đắm trước cảnh dục lạc không vượt thoát đó là nguyên nhân không thể giải thoát, và không suy nghỉ chín chắn cội nguồn khổ đau của bản để cầu giải thoát, cho nên không thể đạt được sự giải thoát. Vì vậy người xuất gia cần phải xa lìa hai món chấp trước đó mới là trung đạo, rồi siêng năng tu tập có thể đạt đến đạo quả Niết bàn. Năm vị này đều được khai ngộ, và trở thành năm vị đầu tiên của Phật. Đây là móc son lịch sử khởi đầu cho công cuộc hoằng dương chính pháp của ngài và cho mãi về sau những đệ tử chân chính của ngài luôn ghi nhớ bài pháp này và cũng là nền tảng cho hệ thống giáo lý của đức Phật. Trong Tương Ưng bộ kinh V, chương 12, phẩm II, kinh chuyển pháp luân, trang 611… “Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp Tứ diệu đế, thành kiến me lầm tan vỡ, trí tuệ siêu thoát xuất hiện, năm vị này được giác ngộ, chứng nhập quả vị A La Hán. Đó là năm vị đầu tiên của đức Phật thích Ca.” Như vậy Tam bảo được hình thành từ đây. Phật bảo là đức Phật thích Ca; Pháp bảo là bài pháp Tứ Diệu Đế; Tăng bảo là năm anh em Kiều Trần Như.

Vậy chúng ta có thể nói rằng Tăng đoàn Phật giáo đã được thành lập ngay vào năm thứ nhất kể từ lúc đức Phật chứng đạo. Sau đó, Ngài tiếp tục hóa độ và thâu nhiếp tôn giả Yasa cùng 54 người khác gia nhập Tăng đoàn tại thành phố Ba La Nại. Khi Tăng đoàn lên đến 60 vị, đều là A La Hán, đức Phật khuyên họ chia nhau đi khắp nơi để hoằng pháp lợi sinh. Đây là hạt giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để rồi về sau này nở muôn ngàn bốn phương: Là Giáo hội Tăng già. Đó cũng chính là giai đoạn Ngài khai sinh và xây dựng Tăng đoàn, từng người một, từng ngày một, để đặt nền móng nhưng đồng thời cũng thiết kế và hoàn thiện một công cụ thiện xảo với chức năng, thay Ngài sau này, duy trì bánh xe Chính pháp được quay đều, và quay bền vững, trong không gian vô tận và thời gian vô cùng.

Trải qua 45 năm, đức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ rộng lớn bao la, hết nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài giẫm đến là ánh đạo vàng bừng tỏa huy hoàng.

Mỗi ngày Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không bao giờ xao lãng, giải đãi, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến mùa nắng. Trong năm có mười hai tháng, thì hết tám tháng Ngài giãi dầu phong sương khắp chốn, không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt bốn mươi lăm năm trường.

Một hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung sắp đến, Ngài gọi tất cả đệ tử về và nói rằng: “Kiếp sống thật là ngắn ngủi; Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa lìa các con! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy. Các con hãy cố gắng chuyên cần tinh tấn, hãy kỹ càng thận trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả, với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử sinh và chấm dứt được phiền não, đau khổ. Vạn vật cấu tạo là vô thường. Các con hãy cố gắng lên !.

Năm ấy đức Phật thọ 80 tuổi. Ngài trở về Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an tịnh. Ngài tịch diệt, thân nằm giữa hai cây long thọ (Sala), hôm ấy đúng ngày Rằm vào tháng Vesak. Như thế Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba: Giáng sinh, Thành Đạo, và Tịch Diệt (Niết bàn) của đức Phật. Ngày nay phật tử khắp hoàn cầu cử hành cuộc lễ gồm ba phần đã nêu ở trên với một niềm tin tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.

Để kỷ niệm ngày đức Phật giáng trần và cũng là ngày đắc Đạo sau sáu năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày Rằm tháng Tư Âm lịch là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộc các giáo hội trên khắp thế giới nao nức tổ chức kỷ niệm ngày Đản sinh. Tại Việt Nam các chùa, viện thuộc Bắc tông, Nam tông hay Đại thừa và Tiểu thừa, Mật tông, hay Thiền tông đều tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Để nhắc nhở người con Phật ôn lại những lời vàng ngọc răn dạy tinh hoa của đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian này. Đây là thông điệp của đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.

Thích Thiện Hạnh

Sự kiện nổi bật

Tìm kiếm

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng

Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh

Ý Nghĩa Và Cách Thờ Cúng Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni

Cách Thờ Cúng Trong Gia Đình Hợp Lý Đơn Giản Hiệu Quả.

Cách Bày Bộ Đồ Thờ,đỉnh Bày Trên Bàn Gia Đình Đẹp

Cách Bày Bàn Thờ Gia Tiên

Cách Bày Bàn Thờ Gia Tiên Chuẩn Đón Tài Lộc

Hướng Dẫn Chi Tiết Thủ Tục Chuyển Bàn Thờ Cũ Sang Bàn Thờ Mới

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại Tượng Thích Ca Phật Đài về mặt kích thước và chất liệu.

Đầu tiên chúng ta phải nói đến dòng Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được điêu khắc bằng gỗ. Việt Nam là một đất nước có diện tích rừng lớn, các dòng sản phẩm được làm từ gỗ luôn rất tinh xảo và có giá trị kinh tế cao. Tượng Phật Thích Ca bằng gỗ hầu hết được điêu khắc từ các dòng gỗ quý. Ngoài vấn đề bền chắc thì Tượng Phật Thích Ca bằng gỗ đều có một mùi hương dịu nhẹ, chịu được nhiệt và độ ẩm trong không khí. Thông thường để điêu khắc Tượng Phật Thích Ca các nghệ nhân thường sử dụng gỗ trầm hương có mùi dịu nhẹ. Khi đặt Tượng Phật Thích Ca bằng gỗ trầm hương trong nhà không chỉ tăng thêm không khí nghiêm trang, tôn trọng đối với phật giáo mà mùi hương của gỗ còn có tác dụng an thần rất tốt. Đặc biệt Tượng Phật Thích Ca bằng gỗ thường có khối lượng nhẹ hơn so với những chất liệu khác nên dễ vận chuyển và đặt ở những vị trí gia chủ mong muốn. Tuy nhiên dù được bảo quản và sử dụng gỗ quý thì Tượng Phật Thích Ca bằng gỗ vẫn cần phải chú trọng việc bảo quản.

Chất liệu thứ hai thường được sử dụng để điêu khắc là Tượng Phật Thích Ca bằng đá. Loại đá để điêu khắc Tượng Phật Thích Ca không phải loại thông thường mà là một loại đá đặc biệt. Loại đá này thường có tính chất cứng rắn, màu sắc tươi sáng và đồng bộ. Hầu hết các đơn vị điêu khắc Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni đều sử dụng đá cẩm thạch để đảm bảo về chất lượng. Đá cẩm thạch có độ cứng vừa phải có thể dễ dàng điêu khắc những chi tiết nhỏ nhất làm cho tượng được điêu khắc sống động như thật. Tuy nhiên việc điêu khắc đá cẩm thạch không phải là chuyện dễ dàng, mỗi một Tượng Phật Thích Ca đều được điêu khắc từ nguyên khối. Nghĩa là một khối đá sẽ được các nghệ nhân tạo hình chi tiết thành Tượng Phật Thích Ca. Việc điêu khắc đá nguy hiểm và chiếm rất nhiều thời gian vì thế mà giá thành của Tượng Phật Thích Ca bằng đá cũng không hề rẻ. Đặc biệt trọng lượng lại rất lớn, hầu hết những Tượng Phật Thích Ca được điêu khắc bằng đá cẩm thạch luôn có khối lượng lớn đặt tại các chùa miếu nhiều hơn. Các gia đình cũng có thể đặt Tượng Phật Thích Ca bằng đá với khối lượng nhỏ hơn nhưng sẽ không tiện bằng những chất liệu khác.

Đồng là chất liệu dùng để đúc Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhiều nhất hiện nay. Theo quan niệm của phật giáo công đức đúc tượng là công đức lớn nhất. Vì thế hầu hết các chùa miếu đều có ít nhất một pho Tượng Phật Thích Ca bằng đồng. Ngoài tính chất đặc biệt của đồng có thể giữ cho bức tượng truyền lưu vĩnh viễn thì đồng còn có độ bóng, bền và rất dễ trong việc tạo khuôn hình. Các Tượng Phật Thích Ca bằng đồng có thể tùy ý chỉnh kích cỡ. Ở các địa điểm thờ cũng như chùa, miếu thì hầu hết những Tượng Phật Thích Ca bằng đồng đều có kích thước và khối lượng lớn được đặt nghiêm trang ở chính điện. Ngoài ra thì cũng có những dòng Tượng Phật Thích Ca bằng đồng được đúc với khối lượng nhỏ hơn phù hợp cho các gia đình tự thờ cúng. Tuy nhiên vì chất liệu đặc biệt là giá thành của Tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao nhất so với những chất liệu khác trên thị trường.

Cuối cùng là Tượng Phật Thích Ca được làm bằng sứ. Nghề gốm sứ của Việt Nam vô cùng phát triển vì chúng ta có được tài nguyên phong phú. Những bức tượng được đúc bằng sứ luôn rất tinh xảo, các chi tiết được tỉ mỉ khắc lên. Hầu hết những bức tượng Phật Thích Ca làm bằng sứ đều có kích thước nhỏ phù hợp cho các gia đình thờ cúng bởi chất liệu rất dễ bị vỡ khi chịu va đập. Chính vì thế mà khi các gia chủ lựa chọn Tượng Phật Thích Ca bằng sứ cần phải có những biện pháp bảo quản và thờ cúng cẩn thận, tránh những va đập không cần thiết.

Ý nghĩa của việc thờ cúng Tượng Phật Thích Ca

Như chúng ta đã nhắc đến ở trên việc thờ cúng Tượng Phật Thích Ca luôn có một ý nghĩa quan trọng đối với những tín đồ phật giáo. Thích Ca Mâu Ni được biết đến là người khởi nguồn và truyền thụ phật giáo đầu tiên trên thế giới. Chính vì thế mà uy vọng của người rất lớn được các tín đồ phật giáo tôn trọng. Việc thờ cúng Tượng Phật Thích Ca là một tín ngưỡng để cho các gia chủ gửi gắm được tâm tư, nguyện vọng vào đó. Theo triết lý của phật giáo thì Phật ở ngay trong lòng của mỗi người. Khi chúng ta nghĩ đến phật, một lòng hướng phật thì sẽ đạt được những cảnh giới của phật giáo. Tượng Phật Thích Ca được đặt lên đài sen thể hiện sự thanh tịnh, giải thoát con người khỏi những bể khổ của nhân gian.

Đôi mắt của Tượng Phật Thích Ca luôn được điêu khắc một cách rất tỉ mỉ thể hiện là một đôi mắt trầm tĩnh. Với đôi mắt có thể nhìn thấu mọi vật, quan sát chúng sinh Tượng Phật Thích Ca luôn cho người thờ cúng tự kiểm điểm, tự tĩnh tu để có thể nhìn nhận mọi thứ xung quanh mình, giác ngộ chân lý của cuộc sống.

Hầu hết những Tượng Phật Thích Ca đều được đặt ngồi trên đài sen sáng chói. Điều này thể hiện được tính bao dung của phật giáo đến với tất cả chúng sinh.

Việc thờ cúng Tượng Phật Thích Ca dù ở đâu, sử dụng chất liệu gì đều chỉ đến mong muốn của con người là cuộc sống bình an, thanh tịnh được phật giáo che chở khỏi giông bão cuộc đời.

Cách thờ cúng Tượng Phật Thích Ca

Với các tín đồ phật giáo thì trong nhà thờ cúng Tượng Phật Thích Ca cũng là điều bình thường. Ngay cả những người làm kinh doanh không hẳn đã là tín đồ của phật giáo cúng Tượng Phật Thích Ca trong nhà hay tại cơ sở kinh doanh như là một tín ngưỡng, sự yên lòng và gửi gắm những nguyện vọng vào đó.

Cách thờ cúng Tượng Phật Thích Ca cũng không quá mức phức tạp lắm chủ yếu là các gia chủ phải hiểu được ý nghĩa của Tượng Phật Thích Ca và mục đích của mình.

Việc đặt Tượng Bổn Sư Thích Ca tại nơi thờ cúng cần phải đúng với phong thủy trong nhà. Mỗi gia đình sẽ có cách luân chuyển phong thủy khác nhau bởi còn phụ thuộc vào cung mệnh của từng người, hướng nhà các điều xung khắc trong đó. Trước khi đặt Tượng Phật Thích Ca lên nơi thờ cúng gia chủ cần phải chú ý đến những vấn đề kiêng kị như là: không đặt Tượng Phật Thích Ca lên bàn thờ gia tiên mà cần lập một bàn thờ khác. Các dụng cụ sử dụng trên bàn thờ Tượng Phật Thích Ca không được sử dụng với mục đích khác, khi thỉnh Tượng Phật Thích Ca từ cửa hàng phải đi luôn về nhà không được dừng ngang, rẽ dọc đi đâu cả.

Khi đặt bàn thờ Tượng Phật Thích Ca không được đặt đối diện với nhà vệ sinh hay bếp hoặc các nơi xú uế vì như vậy là không tôn trọng với bậc thầy giác ngộ tối cao. Ngoài ra khi đặt bàn thờ Tượng Phật Thích Ca cần phải đảm bảo được sự vững chắc, bình ổn. Phật giáo hướng đến sự bình đẳng của chúng sinh, không sát sinh. Chính vì thế khi thờ cúng Tượng Phật Thích Ca gia chủ nên chuẩn bị đồ chay để thể hiện sự thành tâm của mình.

Một điều đặc biệt nữa là khi thờ cúng Tượng Phật Thích Ca luôn thành tâm, không cầu xin hay nguyền rủa ai cả. Phật giáo chỉ hướng đến những điều tốt đẹp nên luôn cần gia chủ tịnh tâm, biết đủ và có tấm lòng bao dung.

Vậy nên mua tượng Phật Thích Ca thế nào ? giá ra sao ?

Tượng Phật Thích Ca đẹp hiện nay có hai loại là Tượng Phật ngồi trên đài sen và Tượng Phật đứng trên đài sen tay bắt quyết. Dù là loại nào đều có thể thờ cúng trong nhà. Mỗi gia chủ sẽ xem xét điều kiện của gia đình mình để có thể lựa chọn Tượng Phật Thích Ca phù hợp nhất.

Tượng Phật Thích Ca giúp cho gia đình bình an, các thành viên khỏe mạnh, điều hòa âm dương trong nhà hài hòa nhất. Thờ cúng Tượng Phật Thích Ca không chỉ là vấn đề tôn giáo nữa mà còn đem lại cho các gia chủ sự kính cẩn, thành tâm răn dạy con cháu hướng hiện, có lòng bao dung và luôn hướng đến điều tốt đẹp nhất.

Xưởng tranh tượng Phật Mandala với các nghệ nhân nhiều năm kinh nghiệm luôn sẵn sàng chế tác các tác phẩm tượng Phật theo yêu cầu của quý Phật tử với mức giá phù hợp nhất.

Vui lòng liên hệ qua số điện thoại 0981.993.020

Fanpage : https://www.facebook.com/XuongTranhTuongPhatCom/

Những Lưu Ý Quan Trọng Khi Bài Trí Và Thờ Cúng Tượng Phật Tại Gia

Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật.

Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến Việt Dịch

Lựa Chọn Hoa Thờ Cúng Nào Trên Bàn Thờ ? Bàn Thờ Anamo

Đặt Hoa Cúng Trên Bàn Thờ Và Những Điều Kiêng Kỵ Cần Tránh

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Bài Khấn Phật Dược Sư

Chúng Ta Hiểu Sai Về Đức Phật Di Lặc Như Thế Nào

Sự Tích Đức Phật Di Lặc

1000 Năm Trước, Đức Phật Di Lặc Chuyển Sinh Cõi Nhân Gian Nhưng Người Đời Không Hay Biết

Phật Thích Ca Mâu Ni còn được dân gian gọi là Phật Tổ Như Lai. Ngài sinh ngày rằm tháng 4 cách đây 2640 năm tại nước Ấn Độ. Cha là Vua Tịnh Phạn, mẹ là Mẫu hậu MaZa. 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề.

Ngài trụ thế 80 tuổi, trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt,tổng cộng là 49 năm. Những Kinh Pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời:

Thời thứ nhất nói Kinh Hoa Nghiêm Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói KINH HOA NGHIÊM 21 ngày. Vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao siêu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ đích có hai điều: – Dẫn dắt các bậc Bồ Tát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác. – Nêu bày giáo pháp rốt ráo của Như Lai, chỉ có Phật với Phật mới hiểu rõ mà thôi; Ngoài ra hàng nhị thừa ngồi nghe như đui, như điếc, huống chi ngoại đạo,tà giáo làm sao hiểu nổi! Ðức Phật trình bày giáo pháp siêu việt tuyệt vời ấy, là muốn cho đại chúng phải tu theo Ðại thừa Phật giáo mới được hoàn toàn rốt ráo.

Thời thứ hai Phật nói Kinh A Hàm Biết rằng: “Muốn đi xa phải do nơi gần, muốn lên cao phải từ nơi thấp”,Ðức Thích Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý cho hàng Tiểu thừa dễ nhận, mà lo bề tự tu và tự độ.

Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Ðẳng. Ðạo Phật chẳng những dạy pháp giác ngộ phần mình mà Ngài còn chỉ bày phương pháp giác tha nữa, tức là khuyến khích từ cái giác ngộ tiêu cực nhỏ hẹp của Tiểu thừa (A-la-Hán), để tiến lên cái giác ngộ tích cực bao la của Ðại thừa Phật giáo. Ấy là thời nói Kinh phương Ðẳng trọn 8 năm, dẫn dắc Tiểu thừa qua Ðại thừa.

Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã. Ðến khi Ðức Phật xem căn cơ của chúng sanh có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp Ðại thừa, nên Ngài chỉ bày Ðạo lý chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Ấy là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm.

Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn. Sự hóa độ một đời của Ðức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của chúng sanh đã thuần thục, có thể gánh vác Ðại thừa Chánh pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Ấy là thời nói Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn trọn 8 năm. Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn.

Hình dáng tượng phật thích ca mâu ni

Hình dáng đặc trưng: Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ “vạn”. Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

Tư thế tay: Tay tượng Phật Thích Ca có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng… Chúng ta thường gặp hình ảnh phật thích ca 1 tay cầm bông hoa sen cũng có khi cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.

Ngoài ra còn có tượng Phật Thích Ca sơ sanh. Tượng này hình một hài nhi đứng trên hoa sen, tay mặt chỉ lên, tay trái chỉ xuống. Đó là biểu thị một bậc thánh nhân xuất thế, vừa lọt lòng mẹ đã có những hành động siêu phàm.

Các nhân vật đi kèm Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả là Ca Diếp, vẻ mặt già, bên trái và A Nan Đà, vẻ mặt trẻ, bên phải. Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi ngài còn ở thế gian.

Nhiều ngôi chùa cũng phối thờ phật thích ca với hai vị bồ tát đó là phổ hiền bồ tát và văn thù sư lợi bồ tát.

Địa điểm uy tín chuyên đặt tạc tượng phật thích ca mâu ni bằng gỗ

Quy trình chế tác tượng phật của làng nghề sơn đồng

Loại gỗ thường hay được dùng để tạc tượng phật là gỗ mít. Loại gỗ này có đặc tính mềm dễ đục đẽo, trạm khắc rất bền ít bị nứt, gần như không bị sâu mọt và có ưu điểm nhất đó là ưa sơn. Thông thường gỗ của một cây mít già thường được đưa ra ao ngâm vài tháng, giúp gỗ loại bỏ đi một số chất và côn trùng trong thân cây. Sau đó, thân gỗ sẽ được vớt lên và để ra ngoài trời phơi cho kiệt nước thì mới tiến hành sử dụng. Lúc này, gỗ đã có thể được sử dụng để bóc vỏ và pha cắt làm tượng. Chú ý gỗ mít chỉ lấy phần lõi để làm tượng.

Người nghệ nhân tiến hành đo gỗ theo cỡ tượng thì chỉ việc đẽo bỏ đi phần thừa, nếu gỗ nhỏ mà tượng lớn thì phải ghép và làm mộng cho những chỗ này. Phần gia công đầu tiên là đầu và mặt tượng. Đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi trán, mũi, môi, tai… Trên khuôn mặt tượng, người thợ cũng phân chia từng mảng, diện như khoảng cách giữa hai con mắt, từ chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, khoảng cách giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm, độ dày của môi… Đặc biệt là tai Phật, phải tính đặt cân đối hợp lý trong khoảng cách từ chân tóc tới cằm. Làm sao phải thể hiện hiện được thần thái của đức phật khi tạc.

Sau khi đục phác lấy dáng chung một lượt suốt từ diện tới bệ, đến khâu đục chi tiết, người thợ cũng thể hiện dần từng bộ phận. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành nên một pho tượng đẹp. Cuối cùng là khâu gọt, nạo, rồi đánh giấy ráp cho nhẵn. Trong khi gọt, người thợ dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết, sao cho các mảng các khối chân tay và các ngón khỏi dính vào nhau, nhất là phải thể hiện kỹ các đường lượn, mảng miếng. Gọt nạo là khâu hoàn chỉnh phần gỗ trước khi chuyển sang phần sơn. Người nghệ nhân khi đục trạm khắc phải có cái tâm, phải tôn trọng sản phẩm vì đây là nghề tâm linh.

Tượng gỗ sau khi đục xong sẽ được phủ ra ngoài một lớp đất phù sa tinh luyện trộn với sơn ta, hom toàn bộ pho tượng rồi bó bằng sơn sống. Sau mỗi công đoạn đều phải mài tượng bằng đá và nước, cứ sơn lên rồi lại mài đi, rồi lại sơn lên… cứ thế lặp lại đến bao giờ thấy bề mặt tượng phật phẳng nhẵn và mọng lên thì bắt đầu được sơn thếp. Lớp sơn then màu đen được phủ lên đầu tiên và được phủ nhiều lần để chúng ngấm cả vào lớp đất hom phủ trên bề mặt trước đó. Lớp sơn tiếp theo là lớp sơn cánh gián rất mỏng để dát vàng và bạc.

Thông thường vàng và bạc được dát theo lối vẩy cá. Ở Việt Nam làng nghề mỹ nghệ sơn đồng nổi tiếng với nghề đục, trạm khắc tượng phật với nghệ thuật sơn son thếp vàng không ở đâu sánh bằng. Đây chính là điểm quan trọng để tạo nên thương hiệuđồ thờ sơn đồng vang tiếng khắp trong nước và ngoài nước hiện nay.

Cam kết chất lượng sản phẩm và dịch vụ đồ thờ phú cường:

Chất lượng gỗ đúng chủng loại 100%; gỗ đã được qua xử lý chống mối mọt cong vênh

Chất lượng sản phẩm: Trong ngoài như nhau, quý khách được kiểm tra mộc kỹ càng trước khi sơn thành phẩm

Hoa văn họa tiết chạm khắc tinh xảo.

Thời gian giao hàng đúng hẹn.

Bảo hành chất liệu gỗ:10 năm

Giá thành tốt nhất

Hỗ trợ vận chuyển bán kính 30km tính từ Sơn Đồng, Hoài Đức, Hà Nội.

Đặc biệt: Công Ty sẽ cử người đến tận nơi để tư vấn nếu quý khách ở gần, Nếu quý khách hàng ở xa chỉ cần để lại số điện thoại sẽ có nhân viên gọi điện tư vấn thiết kế mẫu mã, kiểu cách phù hợp với đặc trưng, bản sắc văn hóa làng xã, dòng họ hoặc từng cá thể gia đình.

Thông tin liên hệ:

Đồ thờ Phú Cường

Địa chỉ: Xóm Hàn – Sơn Đồng – Hoài Đức – Hà Nội

Email: Sd.dotho@gmail.com

Hotline: 0946 839 111

Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh

Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích

Văn Khấn Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh

Văn Khấn 49 Ngày Mất

Tìm Hiểu Về Ngày Lễ Phật Đản

Văn Khấn Lễ Phật Và Sắm Lễ Đi Chùa Đầu Năm Mới

Lễ Phóng Sinh Và Bài Văn Khấn Phóng Sinh

Bài Văn Khấn Quán Thế Âm Bồ Tát Tại Chùa

Đức Phật Thích Ca đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc xứ Ca Tỳ La Vệ, được gọi là Thái tử Tất Ðạt Ða (hay Sĩ Ðạt Tha), con của đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia. Ngài lớn lên trong hoàng cung, vâng lệnh song thân lập gia đình với công chúa Gia Du Ðà La, và hạ sinh Thái tử La Hầu La. Trong các chuyến xuất cung du ngoạn ngoại thành, Ngài chứng kiến các cảnh: sinh, lão, bệnh, tử trong nhân gian. Từ đó, Ngài luôn luôn trầm tư mặc tưởng, muốn tìm phương tự độ và cứu giúp chúng sinh thoát khỏi cảnh trầm luân sinh tử, cho nên Ngài lìa bỏ hoàng cung, lên đường tìm đạo giải thoát. Sau sáu năm tu khổ hạnh ở chốn rừng già, và 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới cội cây bồ đề, tâm trí thanh tịnh, Ngài hoát nhiên giác ngộ, thành Phật, thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác, vào năm Ngài được 30 tuổi. Sau đó, Ngài đi khắp nơi thuyết pháp, đem chân lý giác ngộ giảng dạy cho mọi người trong 50 năm ròng rã, và Ngài thị tịch, nhập Niết bàn, năm 80 tuổi tại khu rừng ta la song thọ.

Chính vì thế, lễ Phật đản được tổ chức hàng năm, vào ngày rằm tháng tư, ở các nước theo đạo Phật là để kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời.

2. Ý nghĩa Lễ Phật Đản

Theo truyền thống Đại lễ Phật đản ở Việt Nam được Phật giáo tổ chức trang trọng, thành kính. Sau khi đất nước thống nhất, Giáo Hội Phật giáo Việt nam được thành lập từ năm 1981 đến nay, hàng năm Đại lễ Phật đản được tổ chức vào đúng ngày rằm tháng 4 âm lịch, với lễ đài tổ chức Đại lễ trang trọng để dâng hương tưởng nhớ, tôn kính Đức Phật; lễ tắm Phật Thích Ca sơ sinh với sự cầu mong thân thể và tâm hồn trong sạch khi được dòng nước thơm và trong lành gột rửa. Lễ tắm Phật với sự tham dự của các cấp chính quyền và tăng, ni, phật tử.

Ngoài các nghi lễ trên Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành còn tổ chức xe hoa diễu dành trên các đường phố, các chùa làm lễ phóng sinh, thả hoa đăng trên sông, hồ, tổ chức văn nghệ, thuyết giảng Phật pháp, trang trí đèn lồng và cờ Phật giáo ở các chùa,… Trước và trong dịp Đại lễ, Giáo hội Phật giáo các tỉnh thành, các chùa, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động từ thiện, thăm hỏi và tặng quà cho những tăng, ni, Phật tử có uy tín, có công lao với Đạo pháp hoặc những gia đình Phật tử có thành tích trong xây dựng Phật pháp, xây dựng địa phương,… thực hiện ghi công, tri ân và báo ân theo tinh thần Phật giáo.

3. Văn khấn Lễ Đức Phật Đản Sanh:

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con trên mọi nẻo tăm tối khổ đau. Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con thật cần thiết để giữ yên cho thế giới khỏi biến thành biển lửa chiến tranh thù hận.

Kính lạy Đức Thế Tôn: đã đến lúc ánh sáng của ngọn đèn chánh pháp phải được vận dụng một cách trịnh trọng để xua tan bóng đêm tà kiến đang bao phủ nhân loại. Đã đến lúc tiếng chuông từ bi phải được lắng nghe một cách tha thiết để mọi trái tim cùng nhịp đập yêu thương,xây dựng tình người để thế giới mãi xanh màu hạnh phúc.

Kính lạy Đức Thế Tôn: sức mạnh mà ngài đã khơi dậy trong chúng con thật có hiệu lực và hiệu lực mãi trước một thế giới quá nhiều bạo động và mâu thuẫn. Từ trong đại bi tâm Ngài xuất hiện như một sứ giả hòa bình,mang thông điệp tình thương đến cho cuộc đời thông qua con đường hóa giải. sức mạnh nội tâm đã giúp chúng con vượt qua mọi thử thách để tự chủ. Những lời dạy của Ngài thật thiết thực và hữu ích đã có giá trị suốt 2641 năm và sẽ còn giá trị mãi mãi.

“Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù”

” Chiến thắng ngàn quân giữa bãi chiến trường chưa gọi là thắng. Tự chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”

” chính ngươi là hải đảo vững chắc cho tự thân ngươi. Không một người nào khác,không một nơi nào khác là nơi nương tựa. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.”

Kính lạy Đức Thế Tôn: Nhân mùa đản sanh của Ngài,chúng con thành kính hái đóa Vô Ưu thanh khiết dâng lên cúng dường dường bậc vô thượng giác, Đấng Thiên Nhơn Sư như là tặng phẩm cao quý nhất xin dâng tặng cho cuộc đời với cầu nguyện chân thành tha thiết:” Mong cho cuộc đời mãi mãi được an vui, hạnh phúc. Người người gặp nhau nhìn nhau với tất cả tấm lòng thương yêu trọn vẹn.

Xin cho khói trầm thơm, kết thành mây năm sắc, dâng lên khắp mười phương, cúng dường vô lượng Phật, vô lượng chư Bồ-tát, cùng các thánh hiền tăng, trên pháp giới dung thông, kết đài sen rực rỡ, nguyện làm kẻ đồng hành, trên con đường giác ngộ, xin mọi loài chúng sanh, từ bỏ cõi lãng quên, theo đường giới định tuê, quay về trong tĩnh thức.

Văn Khấn Ngày Lễ Phật Đản

Cách Sắm Lễ, Bài Văn Khấn Tảo Mộ Tiết Thanh Minh

Bài Văn Khấn Cầu Công Danh Khi Đi Chùa Hương Chuẩn Nhất

Ba Bài Văn Khấn Mẫu Phổ Biến Tại Đền, Chùa Việt Nam

Bài Khấn Xin Giải Trừ Vận Hạn Khi Đi Chùa Hương

12 Thủ Ấn Của Phật Thích Ca

Bắt Ấn Là Gì? Để Làm Gì? Ý Nghĩa

Nghèo Thì Làm Sao Để Bố Thí Và Cúng Dường?

: Cúng Dường Là Gì? Bố Thí Là Gì?

Cách Khấn Nguyện Khi Vun Trồng Thiện Căn

Cách Ghi Viết Phong Bì Viếng Đám Ma Tang Lễ Và 49 Ngày Xúc Động Nhất

Thực đúng như vậy, phần lớn các hình Phật Thích Ca có thủ ấn bàn tay phải nằm trên bàn tay trái, ngược lại với hình Đức Phật của trang nhà ĐPNN.

Các tranh vẽ trong Phật giáo thường do các họa sĩ vẽ ra theo trí tưởng tượng, dựa vào những chi tiết trong kinh sách, thường có ý nghĩa tượng trưng, không đúng sự thực như trong hình vẽ diễn tả.

Chẳng hạn như là: hình Đức Phật A Di Đà đứng trên đóa hoa sen, một tay cầm hoa sen, một tay giơ ra, như đang chờ đón rước chúng sanh về với chư Phật ở cõi cực lạc, theo kinh A Di Đà. Hoa sen tượng trưng cho “bản tâm thanh tịnh” của chư Phật và của mỗi người. Người nào tu tâm dưỡng tánh đạt được “nhất tâm bất loạn”, tức là sống được với bản tâm thanh tịnh, người đó sẽ vãng sanh tây phương cực lạc. Chứ không phải chỉ tu tập sơ sơ, được chút ít công đức phước đức, rồi tưởng tượng sẽ được về cực lạc sau khi mãn phần, một cách dễ dàng.

Trong kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc”. Nghĩa là: Không thể lấy chút ít phước đức làm nhân duyên để được sanh qua nước kia (tức là cõi cực lạc).

Chẳng hạn như là: hình Đức Phật Thích Ca ngồi dưới cội bồ đề, trên đóa hoa sen, cũng có ý nghĩa: người nào giác ngộ và sống được với bản tâm thanh tịnh thì đó chính là một vị Phật. Thực sự lúc thành Phật dưới cội bồ đề, Đức Thích Ca chỉ tọa thiền trên tấm thảm cỏ (tức là bồ đoàn). Lúc đó, Đức Phật để bàn tay mặt trên bàn tay trái, hay ngược lại, không có kinh sách nào nói rõ. Tuy nhiên, việc đó không quan trọng. Tại sao như vậy? Bởi vì, đó chỉ là hình tướng bên ngoài mà thôi. Không phải các thủ ấn có thể giúp mình hàng phục ma quân bên ngoài gì đâu?

Cốt tủy của đạo Phật là giúp đỡ con người hàng phục “tâm ma” trong lòng chính mình, lúc đó tâm được an thì “tâm Phật” hiển lộ. Khi nào tất cả mọi chúng sanh trong lòng chúng ta được độ hết, tức là chúng ta hàng phục được tâm của chính mình, chúng ta sẽ thành một vị Phật, chứ không phải lo đi độ hết mọi người bên ngoài xong rồi, mới được thành Phật. Tại sao như vậy? Bởi vì, đã có biết bao nhiêu vị Phật đã thành, mà chúng sanh vẫn còn vô số trên thế gian!

* * *

Tóm lại, cốt tủy của đạo Phật có thể tóm gọn vào một chữ, đó là chữ TÂM. Tâm được an tịnh là điều hạnh phúc quí báu nhứt trên trần đời. Tất cả những gì thuộc hình thức, hình tướng bên ngoài, chỉ là phần phụ thuộc mà thôi.

Phật Tử Tại Gia Có Nên Bắt Ấn Khi Trì Chú Đại Bi Hay Không?

Cùng Nhìn Lại Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Đền Ân Tổ Quốc Của Các Phật Tử Clb Cúc Vàng

Quý Phật Tử Sớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương

Phật Tửsớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương

Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh Ban Lời Chúc Nguyện Trong Buổi Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Tứ Trọng Ân

Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh

Lễ Phật Đản 2022 Vào Ngày Nào? Ý Nghĩa Lễ Phật Đản

Văn Khấn Lễ Phật Ở Chùa,van Khan Le Phat O Chua

Các Bài Văn Khấn Rằm Tháng Giêng Tại Nhà Và Ngoài Chùa

Thần Chú Đức Phật Đại Nhật Như Lai

Mặt Phật Bản Mệnh Như Lai Đại Nhật

Kính lạy Đức Thế Tôn: nhân loại chúng con đang hướng về ngài với lòng thành kính và niềm tri ân vô hạn. Ánh sáng chánh pháp của Ngài đã hướng chúng con biết trở về đúng hướng, đã soi sáng tâm hồn chúng con trên mọi nẻo đường tăm tối khổ đau.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con trên mọi nẻo tăm tối khổ đau. Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con thật cần thiết để giữ yên cho thế giới khỏi biến thành biển lửa chiến tranh thù hận.

Kính lạy Đức Thế Tôn: đã đến lúc ánh sáng của ngọn đèn chánh pháp phải được vận dụng một cách trịnh trọng để xua tan bóng đêm tà kiến đang bao phủ nhân loại. Đã đến lúc tiếng chuông từ bi phải được lắng nghe một cách tha thiết để mọi trái tim cùng nhịp đập yêu thương,xây dựng tình người để thế giới mãi xanh màu hạnh phúc.

Kính lạy Đức Thế Tôn: sức mạnh mà ngài đã khơi dậy trong chúng con thật có hiệu lực và hiệu lực mãi trước một thế giới quá nhiều bạo động và mâu thuẫn. Từ trong đại bi tâm Ngài xuất hiện như một sứ giả hòa bình,mang thông điệp tình thương đến cho cuộc đời thông qua con đường hóa giải. sức mạnh nội tâm đã giúp chúng con vượt qua mọi thử thách để tự chủ. Những lời dạy của Ngài thật thiết thực và hữu ích đã có giá trị suốt 2641 năm và sẽ còn giá trị mãi mãi.

“Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù”

” Chiến thắng ngàn quân giữa bãi chiến trường chưa gọi là thắng. Tự chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.”

” chính ngươi là hải đảo vững chắc cho tự thân ngươi. Không một người nào khác,không một nơi nào khác là nơi nương tựa. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.”

Kính lạy Đức Thế Tôn: Nhân mùa đản sanh của Ngài,chúng con thành kính hái đóa Vô Ưu thanh khiết dâng lên cúng dường dường bậc vô thượng giác, Đấng Thiên Nhơn Sư như là tặng phẩm cao quý nhất xin dâng tặng cho cuộc đời với cầu nguyện chân thành tha thiết:” Mong cho cuộc đời mãi mãi được an vui, hạnh phúc. Người người gặp nhau nhìn nhau với tất cả tấm lòng thương yêu trọn vẹn.

Xin cho khói trầm thơm, kết thành mây năm sắc, dâng lên khắp mười phương, cúng dường vô lượng Phật, vô lượng chư Bồ-tát, cùng các thánh hiền tăng, trên pháp giới dung thông, kết đài sen rực rỡ, nguyện làm kẻ đồng hành, trên con đường giác ngộ, xin mọi loài chúng sanh, từ bỏ cõi lãng quên, theo đường giới định tuê, quay về trong tĩnh thức.

Ngân Ngân / Phật học đời sống

Văn Khấn Phật Bà Quan Âm Tại Nhà Và Cách Thờ Cúng

Bài Văn Khấn Cúng Phật Chuẩn Nhất Trong Năm 2022

Phật Hoàng Trần Nhân Tông Với Thơ Thiền Nhập Thế

Phật Hoàng Trần Nhân Tông Làm 4 Câu Thơ Thiền, Hậu Thế Nghìn Năm Còn Ngưỡng Vọng

Tại Sao Có Ít Chùa Thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông?

Phân Biệt Phật Thích Ca Và Phật A Di Đà Để Không Nhầm Lẫn

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Bằng Gỗ Mít Sơn Son Thếp Vàng

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Bài Khấn Phật Dược Sư

Chúng Ta Hiểu Sai Về Đức Phật Di Lặc Như Thế Nào

Sự Tích Đức Phật Di Lặc

(Lichngaytot.com) Không ít người nhầm tưởng Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là một. Bởi khi nhắc tới hai vị Phật này, mọi người thường hay niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “Nam Mô Bổn Ni Thích Ca Mâu Ni Phật”. Vậy làm thế nào để phân biệt và không nhầm lẫn giữa hai Ngài?

1. Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là 2 vị Phật tách biệt

Về , nếu được hỏi có phải Phật Thích Ca và Phật A Di Đà là tên một vị Phật, rất nhiều người sẽ phân vân không biết câu trả lời như thế nào. Bởi bạn vẫn thấy mọi người niệm Nam Mô A Di Đà Phật hay Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, dễ nhầm tưởng đây là 1 vị Phật.

Tuy nhiên, câu trả lời chính xác, đây là 2 vị Phật tách biệt. Một Vị có thật trong lịch sử và một Vị xuất hiện trong kinh Phật giáo.

2. Tìm hiểu Phật Thích Ca là ai?

Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử, chính là Hoàng Tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay. Ngài sinh vào khoảng năm 624 TCN, là Thái tử con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Da.

Theo sách sử ghi lại, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài từng sống trên trái đất này và đã sáng lập ra Phật Giáo. Theo thuật ngữ Phật giáo, cõi Ta Bà (đau khổ) chính là trái đất, nơi con người đang sinh sống.

Ở cõi giới này, Đức Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh, nên người đời tôn xưng Đức Phật Thích Ca là bậc giáo chủ cõi Ta Bà. Ngài là vị Phật lịch sử chứ không phải là một vị Phật huyền thoại.

3. Tìm hiểu Phật A Di Đà là ai?

Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng.

Đức Phật A Di Đà là giáo chủ cõi Cực lạc (an vui) Tây phương. Trong cuộc đời hoằng Đạo của Đức Phật Thích Ca, rải rác trong các Kinh điển, Ngài đã giới thiệu cho tín đồ của mình về Đức Phật A Di Đà và cõi nước Đức Phật A Di Đà đang giáo hóa chúng sinh.

Đức Phật Thích Ca sau khi chứng Thánh quả, Ngài có khả năng vận dụng trí tuệ, thần thông thấy biết sự vận hành của tất cả sự vật, hiện tượng, nhân sinh trong vũ trụ một cách chuẩn xác.

Nhờ khả năng đặc biệt này nên Ngài thấy rõ quá trình tu hành của Đức Phật A Di Đà qua nhiều kiếp. Thấy rõ môi trường sống và đời sống sinh hoạt của chúng sanh ở Tây Phương Cực Lạc do Đức Phật làm giáo chủ. Như vậy, Phật A Di Đà là vị Phật được Đức Phật Thích Ca giới thiệu cho chúng ta.

Theo lời dạy của Phật Thích Ca, con người nếu muốn sau khi chết được tái sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc thì trong quá trình sống, làm việc luôn hướng về điều thiện, làm điều thiện, siêng năng niệm Thánh hiệu: Nam Mô A Di Đà Phật, thì khi chết chúng ta sẽ đước tái sinh về cõi Tây Phương Cưc Lạc này.

Sau khi tái sinh đến cõi này, chúng ta tiếp tục cùng mọi người tu hành theo sự hướng dẫn của Phật A Di Đà cho đến khi chứng đắc Thánh quả giải thoát. Theo đó, các Phật tử thường chào nhau bằng Phật hiệu ” Nam mô A Di Đà Phật”.

Có thể bạn chưa biết:

4. Phân biệt Phật A Di Đà và Phật Thích Ca qua hình dáng, đặc trưng

– Về Phật Thích Ca

Phật Thích Ca thường trong các chùa Phật giáo Bắc tông (Đại Thừa) đều thờ Ngài ở chính giữa chính điện. Nên gọi Ngài là đấng Trung Tôn, vì Ngài là vị Giáo chủ cõi Ta bà này.

Hình tượng Ngài không nhất thiết phải giống người Ấn Độ, vì theo quan niệm Phật giáo Bắc tông, nhất là Thiền tông cho rằng, mỗi người đều có ông Phật (Phật tính) nên người nước nào tạc tượng giống người nước đó. Từ nét mặt cho đến hình tướng. Nên hình tượng thờ trong các chùa không nhất thiết phải giống nhau. Đó là xét trên đại thể, còn các chi tiết tương đối giống nhau.

– Hình dáng đặc trưng của Phật Thích Ca

+ Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc.

+ Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, không đắp y khoát vuông để trống trước ngực với chữ Vạn (tức không có chữ Vạn).

+ Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.

+ Tay tượng Phật Thích Ca có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng…

+ Phật cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.

Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả là Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi ngài còn ở thế gian.

– Về Phật A Di Đà

+ Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây),

+ Áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có chữ “vạn”.

+ Phật A Di Đà có thể trong tư thế đứng, tay làm ấn giáo hóa – tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn.

+ Phật A Di Đà cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.

Phật A Di Đà thường được minh họa cùng hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).

Ý Nghĩa Danh Hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Phật Thích Ca Mâu Ni Là Ai?

Những Cần Biết Về Chùa Phật Tích Bắc Ninh

Bí Mật 400 Năm Về Sự Tu Hành Của Thiền Sư Chuyết Chuyết Và Nhục Thân Của Ngài Tại Chùa Phật Tích

Thỉnh Phật Bà Quan Âm Tại Gia Và Những Điều Cần Lưu Ý

Tăng Ni Phật Tử Các Nơi Cúng Dường Sớt Bát

Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Báo Tứ Trọng Ân

Sư Phụ Thích Trúc Thái Minh Ban Lời Chúc Nguyện Trong Buổi Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Tứ Trọng Ân

Phật Tửsớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương

Quý Phật Tử Sớt Bát Cúng Dường Trường Hạ Ngọc Phương

Cùng Nhìn Lại Chương Trình Sớt Bát Cúng Dường Chư Tăng Báo Đền Ân Tổ Quốc Của Các Phật Tử Clb Cúc Vàng

Tăng Ni Phật tử các nơi cúng dường sớt Bát

Lúc 10h30′ ngày 21.5.Ất Mùi (nhằm ngày 6.7.2015), Ni trưởng Mai Liên, trụ trì Tịnh xá Ngọc Đức, Thủ Đức, chúng tôi đã hướng dẫn gia đình Phật tử có người thân đang bệnh nặng, về trường hạ Ngọc Phương, cúng dường sớt bát, để cầu nguyện cho tật bệnh của người thân được tiêu trừ.

Ni Sư Tín Liên – Phụng Liên, mặc dù đang ở tại Tổ đình Ngọc Phương, để lo Phật sự, nhưng cũng không quên gọi đệ tử là Sư cô Nhiên Liên dắt Phật tử tại thiền viện Minh Đăng về thăm viếng, cúng dường Trường hạ. Phú Cường – Đồng Nai, một vùng đất nghèo khó, từ khi hai Ni sư đến hành đạo, người dân nơi đây đã biết quy hướng Tam Bảo, nay lại biết bố thí, cúng dường.

Hôm nay cũng là ngày kết thúc thời gian luyện thi để thi tuyển vào HVPGVN tại chúng tôi Tăng Ni sinh sau hai tháng luyện thi tại Tịnh xá Ngọc Phương đã hùn phước cúng dường sớt bát, để cầu nguyện cho kỳ thi sắp tới của mình đạt được kết quả tốt đẹp.

Đặc biệt trong buổi trưa 21.5, có gia đình cô Trâm (Lò Bánh Hỏi), đối diện Tổ đình Ngọc Phương cũng sớt bát cúng dường. Không chỉ cúng trong mùa hạ, mà vào ngày rằm, mùng một, mỗi tháng, gia đình đều mang bánh hỏi sang cúng dường đến Chư ni.

Hình ảnh buổi cúng ngọ:

Các Tịnh xá tại Châu Đốc cúng dường Trường hạ ( Liên Chơn , 4880 xem)

Chư Ni và Phật tử cúng dường sớt Bát ( Liên Chơn , 3704 xem)

Phật tử các Tịnh xá cúng dường sớt Bát ( Liên Chơn , 3844 xem)

Tịnh xá Ngọc An cúng dường Trường hạ ( Liên Chơn , 2100 xem)

Các Tịnh xá cúng dường Trường hạ ( Liên Chơn , 2592 xem)

Chư Ni và Phật tử tỉnh Long An cúng dường Trường hạ ( Liên Chơn , 2959 xem)

Tịnh xá Ngọc Minh cúng dường Ngọ trưa ( Liên Chơn , 4400 xem)

Các Tịnh xá tại Mỹ Tho cúng dường sớt Bát ( Liên Chơn , 3300 xem)

TT Bửu Chánh thuyết giảng tại Trường hạ Ngọc Phương ( Liên Chơn , 2852 xem)

Ni Sư Tín Liên thuyết giảng tại Trường hạ Ngọc Phương. ( Liên Chơn , 3320 xem)

Ghi Chép Về Lễ Động Thổ Đại Bảo Tháp Tây Thiên

Ý Nghĩa Và Lợi Lạc Cúng Dường Ánh Sáng Cho Phật

Giới Thiệu Đèn Bơ Mani (Đèn Bơ Tara Cũ)

Cúng Dường Thế Nào Để Có Công Đức Lớn Nhất?

Sự Cúng Dường Ý Nghĩa Nhất Là Gì?‏