Top 6 # Xem Nhiều Nhất Vỡ Mâm Chày Có Nguy Hiểm Không Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Gai Mâm Chày Khớp Gối Có Nguy Hiểm Không? Có Chữa Được Không?

1. Nguyên nhân gai mâm chày khớp gối

Nguyên nhân gây gai mâm chày khớp gối là do sự thoái hóa theo thời gian ở những người lớn tuổi. Hoặc do cơ thể gặp phải những loại chấn thương khiến cho xương bánh chè bị vỡ, bề mặt mâm chày xuất hiện những tổn thương.

Khi bị tổn thương ở mâm chày, canxi trong cơ thể có xu hướng tự động bù đắp tại vị trí đó nhằm làm lành vết thương. Tuy nhiên, một phần lượng canxi sẽ bị lắng đọng tại phía ngoài. Lâu dài sẽ tạo thành những chiếc gai tại vùng mâm chày, gây ra các cơn đau nhức và khó chịu vô cùng.

2. Triệu chứng gai mâm chày khớp gối

2.1 Đau khớp gối

Cơn đau xuất hiện nhiều, đặc biệt là sau những lúc vận động mạnh, chơi thể thao,…Khi thực hiện động tác nhún gối sẽ nhận thấy rõ rệt các cơn đau nhói, điển hình là khi di chuyển lên xuống cầu thang. Cơn đau sẽ dần lan tỏa ra nhiều vùng xung quanh đầu gối, lâu dần khiến người bệnh đi lại khó khăn, đi khập khiễng hoặc đứng không vững.

2.2 Cứng khớp gối

Thường xuyên cảm thấy phần khớp gối của mình xuất hiện tình trạng căng cứng, đặc biệt là sau những giấc ngủ dài.

2.3 Tiếng kêu răng rắc, lạo xạo ở các khớp

Phát ra một cách rõ rệt và dễ nhận thấy khi người bệnh gai mâm chày khớp gối tiến hành những cử động và di chuyển khớp gối khi đi lại, làm việc và vui chơi.

3. Vật lý trị liệu điều trị gai mâm chày khớp gối

3.1 Chiếu tia hồng quang

Được xem là một trong những phương pháp vật lý trị liệu chữa gai mâm chày khớp gối phổ biến hiện nay. Phương pháp này góp phần tăng tuần hoàn máu và sát khuẩn. Thông qua việc sử dụng sức nóng và nhiệt được phát ra từ những tia hồng quang. Khi chiếu tia hồng ngoại, người bệnh sẽ cảm nhận được những cơn đau thuyên giảm, hiện tượng co cứng cơ cũng giảm sút nhiều.

3.2 Sóng vi ba

Đây là phương pháp vật lý trị liệu sử dụng các loại bức xạ với tần số cao. Góp phần tác động đến phần khớp bị tổn thương, thúc đẩy sự tuần hoàn của các mạch máu, tiêu viêm, giảm đau nhức và đẩy nhanh quá trình hồi phục bệnh gai mâm chày khớp gối.

3.3 Tập thể dục

Bên cạnh đó, người bệnh cũng nên thực hiện các bài tập đơn giản để hỗ trợ phục hồi chức năng vận động của khớp gối. Những bài tập đơn giản như co duỗi chân, gập chân sẽ giúp hạn chế tình trạng co cứng các cơ, từ đó giúp các khớp được trở nên linh hoạt hơn.

Chúng ta vừa tìm hiểu một vài thông tin về bệnh gai mâm chày khớp gối, đây là một loại bệnh gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người bệnh, nên cần được nhanh chóng phát hiện và có biện pháp điều trị thích hợp.

Biến Chứng Nguy Hiểm Có Thể Gặp Khi Gãy Xương Bó Bột

Nắn chỉnh hay bó bột là phương pháp điều trị gãy xương bảo tồn trong trường hợp gãy đơn giản, không hoặc ít di lệch. Nhiều trường hợp gãy xương ít di lệch nhưng có nguy cơ biến chứng thì cần cân nhắc bó bột.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết, biến chứng gãy xương có thể xảy ra trong tất cả trường hợp. Khi xác định bó bột phải xem có biến chứng gãy xương kèm theo hay không. Bó bột dẫn đến hoại tử chi có thể gặp trong một số trường hợp gãy xương gây ra biến chứng chèn ép khoang và biến chứng tổn thương mạch máu. Chẳng hạn gãy mâm chày có thể dẫn đến hội chứng chèn ép khoang sớm, tổn thương mạch máu, động mạch khoeo.

Theo tiến sĩ Phú, những trường hợp này giai đoạn đầu tiên không bao giờ bó bột kín mà làm một máng bột bên dưới để giữ cố định xương, theo dõi ít nhất 48 tiếng. Còn phần mềm phía trên vẫn quan sát được màu sắc của da, có thể theo dõi mạch, đánh giá tình trạng để không gây ra hội chứng chèn ép do bột. Nếu lỡ bó bột kín cũng phải xẻ rạch dọc một đường giúp thông thoáng.

Trong gãy xương, biến chứng sớm có thể đe dọa trực tiếp tính mạng nếu không cấp cứu kịp thời, cũng như di chứng muộn gây tàn phế nếu điều trị không đúng phương pháp ngay từ đầu. Một số sớm biến chứng thường gặp của gãy xương:

Sốc do mất máu và đau đớn

Tình huống này có thể gây tử vong nếu sơ cứu ban đầu không đúng, bất động xương không vững chắc, thường xảy ra ở các xương dài, lớn như xương đùi, xương chậu, cẳng chân. Lượng máu mất có thể đến cả lít, bệnh nhân sẽ suy sụp tuần hoàn nếu không được truyền máu và cố định xương kịp thời. Cố định xương ban đầu và gây tê ổ gãy đúng phương pháp sẽ giúp bệnh nhân thoát sốc.

Tắc mạch máu do mỡ

Khi bị gãy xương, đặc biệt là xương dài và gãy nhiều xương, lượng mỡ từ tủy xương chảy ra gây tăng áp lực và ngấm trở lại vào máu. Diễn tiến lâm sàng là bệnh nhân kích thích, vật vã, lơ mơ, khó thở và dần dần đi vào hôn mê. Toàn thân xuất huyết dưới da, kết mạc mắt… kéo dài sẽ dẫn đến rối loạn đông máu. Biến chứng này có thể gây tử vong cao nếu không phát hiện kịp thời.

Chèn ép khoang

Gãy xương gây tổn thương mạch máu, cơ và thần kinh. Lượng máu chảy ra gây tăng áp lực và chèn ép khoang. Hậu quả có thể gây hoại tử chi bên dưới nếu không chẩn đoán kịp thời. Một vài trường hợp chi sưng to được cho là gãy xương thông thường và bó thuốc nam hoặc bó bột, dẫn đến thâm tím chi, phải cắt cụt thì mới cứu được tính mạng bệnh nhân.

Viêm xương, gãy xương hở

Đầu nhọn của xương gãy có thể đâm thủng da biến gãy kín thành gãy hở. Vết thương dập nát và dính nhiều di vật (đất, cát…) xung quanh ổ gãy xương. Nên đến cơ sở y tế để được cắt lọc mô bầm dập và loại trừ dị vật nếu có, sau đó diều trị kháng sinh chống nhiễm trùng.

Tổn thương mạch máu, thần kinh

Gãy xương đầu có thể gây tổn thương mạch máu và thần kinh lân cận. Mức độ tổn thương có thể bầm dập hoặc đứt thần kinh, mạch máu. Nếu không phát hiện biến chứng này có thể đưa đến liệt, mất chức năng hoặc phải cắt cụt chi.

Một số biến chứng muộn của điều trị gãy xương là khớp giả, chậm lành xương, can xương lệch. Thường xảy ra khi điều trị không đúng phương pháp, cố định lỏng lẻo, bó thuốc nam mà không được nắn chỉnh hoặc bệnh nhân tự ý tháo bột sớm… Bệnh nhân không đau đớn nhiều nhưng chi không sử dụng được, đi lại không bình thường hoặc xương lành trong trạng thái lệch trục, bị cong gây mất thẩm mỹ.

Lưu ý sau khi bó bột

Không nên vận động, di chuyển nhiều trong thời gian bó bột. Nếu cảm thấy bột quá chặt hay quá lỏng, xuất hiện tình trạng bất thường cần tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bệnh nhân có triệu chứng đau tức, tê rần các đầu ngón, đau dữ dội tăng dần lên, có dấu hiệu sốt, cảm giác như kiến bò ở các đầu chi thì phải ngay lập tức vào bệnh viện, không nên chờ lâu. Đó là những dấu hiệu có sự chèn ép do bó bột, có thể dẫn đến hoại tử nếu không xử trí kịp thời. Không nên nghĩ rằng sự đau tức này là do gãy xương mà nó xuất phát từ sự chèn ép trong bột, nên vào bệnh viện để bác sĩ xử lý.

Một số trường hợp như gãy mâm chày, xương đầu gối, bệnh nhân sẽ được lưu lại theo dõi ở bệnh viện ít nhất trong 24 đến 72 giờ.

Lê Phương

Nội Soi Hỗ Trợ Trong Điều Trị Vỡ Mâm Chày

Vỡ mâm chày là gãy phần đầu trên của xương chày (xương cẳng chân, xương “ống đồng”). Nguyên nhân thường do tai nạn. Vỡ mâm chày một trong những tổn thương gãy xương có thể coi là phức tạp nhất, nhiều biến chứng nhất và khó khăn nhất cho việc điều trị. Dù điều trị phẫu thuật hay bảo tồn, gãy mâm chày cũng để lại nhiều nguy cơ và di chứng nhất định cho chức năng khớp gối của bệnh nhân. Ngoài những thương tổn gãy xương, chấn thương gãy mâm chày có thể kèm theo các tổn thương phần mềm nội khớp khác như sụn chêm, sụn khớp, các dây chằng.

Tại sao nên mổ nội soi hỗ trợ trong vỡ mâm chày?

Khó khăn nhất của vỡ mâm chày là phần xương bị lún xuống làm “vênh” mặt khớp. Khớp gối giống như trục bi xe đạp/xe máy muốn vận động tốt thì ổ bi phải trơn nhẵn, không vỡ các hạt bi. Đồng nghĩa với khớp gối muốn đi lại tốt, không đau, không thoái hóa (không mòn sụn khớp) theo thời gian thì phần xương chày bị lún phải nâng lên và sai số khoảng < 3mm. Với phẫu thuật mổ mở truyền thống thì khó kiểm soát mặt khớp bằng mắt thường, vết mổ to nhiều biến chứng nên kết quả sau phẫu thuật không phải bao giờ cũng tốt. Do đó mổ vỡ mâm chày nội soi ra đời. Kĩ thuật này được tiến hành cách khoảng thập kỉ tại các nước tiên tiến. Tuy nhiên Việt Nam hiện nay mới phát triển và chỉ ít trung tâm chấn thương lớn thực hiện được. Mục đích cuối cùng là hồi phục tối đa chức năng khớp gối, ít biến chứng đặc biệt là thoái hóa gối sau chấn thương.

(HÌnh ảnh: Hình ảnh trong quá trình phẫu thuật. Qua dụng cụ nội soi thấy mặt khớp bị lún khoảng 5mm khi so sánh với sụn chêm – hình góc dưới phải)

Chỉ định mổ nội soi trong vỡ mâm chày khi nào?

Tất cả các trường hợp vỡ mâm chày có lún đều nên có nội soi hỗ trợ. Vì ưu điểm của nội soi khớp trong phẫu thuật gãy xương có thể kể ra là:

Kiểm tra nâng lún mặt khớp đạt hay chưa?

Kiểm tra thương tổn sụn chêm, dây chằng kèm theo. Nếu rách sụn chêm thì tiến hành khâu hoặc sửa, bong điểm bám dây chằng (hay gặp chéo trước) thì khâu trong một thì phẫu thuật

Lấy bỏ dị vật là các mảnh xương sụn nhỏ trôi trong khớp

Đánh giá sụn khớp để tiên lượng hồi phục (Nhiều bệnh nhân có thoái hóa khớp trước chấn thương)

Kiểm soát quá trình bắt vít, tránh vít vào khớp

Trước mổ cần chuẩn bị những gì?

(Hỉnh ảnh a: vỡ mâm chày trên Xquang, b: lún mâm chày ngoài trên cắt lớp vi tính, c: hình ảnh cộng hưởng từ)

Mổ nội soi hỗ trợ vỡ mâm chày là kĩ thuật cao, kĩ thuật khó, nâng cao nên cần chuẩn bị đầy đủ cả về bệnh nhân và phẫu thuật viên. Thường bệnh nhân sẽ cần:

Chụp Xquang khớp gối để chẩn đoán vỡ mâm chày và phân độ tổn thương

Chụp cắt lớp để đánh giá chi tiết hình thái gãy xương, từ đó có kế hoạch phẫu thuật chính xác, tối ưu

Nhiều trường hợp cần chụp cộng hưởng từ để đánh giá sụn khớp, dây chằng, sụn chêm kèm theo

Siêu âm mạch chi nếu nghi ngờ tổn thương mạch (trong vỡ mâm chày gây trật gối, hoặc vỡ mâm chày có bắp chân căng)

Làm các xét nghiệm thường quy khác (xét nghiệm máu, siêu âm tim…)

Bệnh nhân có thể trì hoãn mổ 1 tuần nếu da vùng xương gãy bị phỏng nước do phù nề quá mức

Bạn cần một đôi nạng nách để tập đi sau mổ (6-12 tuần) và nẹp ôm gối (trong 1-2 tuần đầu)

Quá trình phẫu thuật như thế nào?

Bệnh nhân được thực hiện tại nhà mổ, gây tê tủy sống (tại lưng) hoặc gây mê

Bác sĩ sẽ dùng các lỗ nhỏ để đưa camera và dụng cụ vào quan sát và sửa chữa diện khớp, nâng xương lún

Sau đó bắt vít rời hoặc nẹp vít để cố định phần gãy (Nếu đặt nẹp thì có thêm vết mổ nhỏ)

Trong quá trình mổ có thể cần tới máy chụp Xquang trong mổ (C arm) hoặc bàn kéo chân (bàn chỉnh hình)

Thời gian mổ khoảng 1-2h tùy mức độ phức tạp của gãy xương

Sau mổ cần chú ý gì?

Bạn sẽ được chăm sóc vết thương giống như các sau phẫu thuật khác tuy nhiên bạn sẽ

Vận động sớm chân sau mổ tại giường để giảm đau, giảm phù nề…

Đi nạng không tì lực chân xuống đất trong vòng 6-12 tuần sau mổ

Nguy cơ và biến chứng có thể gặp là gì?

Vỡ mâm chày là tổn thương phức tạp, gặp nhiều biến chứng, đặc biệt là biến chứng xa trong đó hay gặp là cứng khớp và thoái hóa khớp sau chấn thương. Giống như mổ mở truyền thống, bạn có thể gặp các biến chứng sau nhưng ít hơn:

Nhiễm trùng

Huyết khối tĩnh mạch chi dưới và tĩnh mạch phổi

Tổn thương mạch, thần kinh

Cứng khớp

Lợi ích của mổ vỡ mâm chày nội soi hỗ trợ so với mổ mở truyền thống là gì?

Do là phẫu thuật ít xâm lấn với vết mổ nhỏ và sửa chữa tổn thương tối đa nên lợi ích có thể kể là:

Ít đau sau mổ

Giảm đau nhanh

Giảm nguy cơ nhiêm trùng

Giảm mất máu

Phục hồi nhanh, giảm thời gian nằm viện

Đặc biệt là hạn chế biến chứng thoái hóa khớp sau chấn thương

Tuy nhiên để mổ nội soi vỡ xương thành công thì cần phải thực hiện ở trung tâm lớn nơi có đầy đủ phương tiện hiện đại bởi với mổ mâm chày nhiều trường hợp nguyên nội soi là không đủ mà cần phối hợp với bàn chỉnh hình, chụp xquang trong mổ. Hơn nữa người mổ phải kinh nghiệm, được đào tạo bài bản thì kết quả mới tối ưu.

Chấn Thương Khớp Gối: Phẫu Thuật Chức Năng Sau Vỡ Mâm Chày

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Hải Yến – Khoa phục hồi chức năng – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Sau khi bị vỡ mâm chày (vỡ xương bánh chè), tùy theo phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật mà có các chương trình phục hồi chức năng phù hợp giúp bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường.

1. Vỡ xương bánh chè là gì?

Xương bánh chè giữ chức năng chính trong hệ thống duỗi gối.Vỡ xương bánh chè dạng gãy kín hoặc gãy hở là loại gãy xương nội khớp trừ gãy cực dưới. Hay gặp trong chấn thương vùng gối do tai nạn giao thông, lao động hoặc sinh hoạt.

Có nhiều loại gãy khác nhau: Gãy ngang là dạng phổ biến nhất, gãy dọc, gãy nhiều mảnh, gãy hình sao.

Điều trị bảo tồn: Bó bột ống đùi cổ chân với gối gấp 5-10o, để bột 3 – 6 tuần khi gãy xương bánh chè dạng nứt rạn, không di lệch; người cao tuổi không còn đi đứng hoặc có bệnh nội khoa nặng kèm theo.

Điều trị phẫu thuật: Phần vỡ rời xa nhau quá 4mm, gãy vụn khi diện khớp của các mảnh gãy khấp khểnh hoặc có mảnh rời di lệch vào khớp gối.

Tùy theo phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật mà có các chương trình PHCN phù hợp giúp bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường.

2. Điều trị phục hồi chức năng

2.1 Nguyên tắc điều trị phục hồi chức năng

Điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân vỡ xương bánh chè với nguyên tắc kết hợp vật lý trị liệu với các bài tập phục hồi chức năng nhằm tăng tầm vận động khớp gối, tăng sức mạnh cơ, giảm nguy cơ cứng dính khớp gối, giúp người bệnh trở lại các vận động sinh hoạt và chơi thể thao bình thường.

2.2 Điều trị phục hồi chức năng

2.2.1 Các phương thức điều trị vật lý

Hồng ngoại, Parafin: Tác dụng giãn cơ, tăng tuần hoàn, giảm đau, tạo thuận cho các bài tập.

Chườm lạnh: Giai đoạn sưng nóng và sau tập.

Tác dụng chống viêm, giảm phù nề, kích thích tái tạo tổ chức tổn thương

Tác dụng giãn cơ giảm đau, gia tăng tuần hoàn; ức chế dẫn truyền đau

Tác dụng chống viêm (viêm gân, viêm cân cơ, viêm bao hoạt dịch…), gia tăng tuần hoàn; thúc đẩy quá trình hàn gắn tổn thương (xương, dây chằng…), chống xơ dính, cốt hóa mô mềm…

2.2.2 Tập phục hồi chức năng

Mục tiêu:

Lấy lại tầm vận động khớp gối

Kiểm soát đau, phù nề

Kiểm soát có lực cơ tứ đầu đùi

PHCN với điều trị bảo tồn và sau mổ buộc vòng chỉ thép có bó bột tăng cường

Giai đoạn bất động khớp gối:

Tập co cơ tĩnh trong nẹp, bột: 10 giây/ lần, ít nhất 10 lần/ ngày, đặc biệt là cơ tứ đầu đùi.

Tập chủ động các khớp tự do: Háng, cổ chân.

Sau khi bột khô, cho bệnh nhân đứng dậy, tập đi với nạng, chịu trọng lượng một phần lên chân bệnh.

Giai đoạn sau bất động:

Di động xương bánh chè, xoa bóp chống kết dính xung quanh sẹo mổ, xương bánh chè và khớp gối.

Tăng tầm vận động khớp gối bằng kỹ thuật giữ nghỉ và kỹ thuật trợ giúp.

Tập duỗi khớp gối hoàn toàn

Tập gấp gối tăng dần, những ngày đầu tập vận động từ 0 đến 30o

Sau đó tập tăng dần để đạt được tầm vận động gấp 90o sau 6 tuần

Lấy lại tầm vận động khớp gối hoàn toàn sau 12 tuần

Trở lại các hoạt động bình thường sau 6 tháng

PHCN sau néo ép xương bánh chè hoặc các phẫu thuật khác không cần bó bột

Giai đoạn I: từ ngày 01 đến 14 ngày sau phẫu thuật:

Chườm lạnh khớp gối 20 phút cách nhau 2 giờ.

Tập duỗi khớp gối – co cơ tĩnh cơ tứ đầu đùi và toàn bộ chân phẫu thuật.

Tập vận động thụ động khớp gối từ 0 đến 30o trong những ngày đầu, tập tăng dần đến 2 tuần đạt gấp gối 90o.

Tập vận động khớp háng, cổ chân bên bệnh.

Băng chun ép cố định khớp gối, sử dụng nạng nách đến khi di chuyển. Chịu một phần trọng lượng lên chân phẫu thuật.

Giai đoạn II: từ 02 tuần đến 06 tuần sau phẫu thuật

Tập duỗi khớp gối tối đa.

Tập gấp khớp gối tăng dần cho đến hết tầm vận động đến tuần thứ 06.

Tiếp tục chịu trọng lượng lên chân phẫu thuật, bỏ nạng sau 04 tuần.

Tập gia tăng sức mạnh cơ tứ đầu đùi bằng chun, tạ, bao cát hoặc dụng cụ tập khớp gối chuyên dụng.

Tập xuống tấn, tập đạp xe đạp, tập bơi.

Bệnh nhân trở lại các hoạt động bình thường sau 06 tháng.

3. Theo dõi và tái khám

Lần đầu: Sau phẫu thuật 2 tuần.

Các lần tiếp theo cách 1 tháng, đến 6 tháng sau phẫu thuật.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.