Top 10 # Xem Nhiều Nhất Vỡ Mâm Chày Khớp Gối Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Chấn Thương Khớp Gối: Phẫu Thuật Chức Năng Sau Vỡ Mâm Chày

Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Hải Yến – Khoa phục hồi chức năng – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Sau khi bị vỡ mâm chày (vỡ xương bánh chè), tùy theo phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật mà có các chương trình phục hồi chức năng phù hợp giúp bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường.

1. Vỡ xương bánh chè là gì?

Xương bánh chè giữ chức năng chính trong hệ thống duỗi gối.Vỡ xương bánh chè dạng gãy kín hoặc gãy hở là loại gãy xương nội khớp trừ gãy cực dưới. Hay gặp trong chấn thương vùng gối do tai nạn giao thông, lao động hoặc sinh hoạt.

Có nhiều loại gãy khác nhau: Gãy ngang là dạng phổ biến nhất, gãy dọc, gãy nhiều mảnh, gãy hình sao.

Điều trị bảo tồn: Bó bột ống đùi cổ chân với gối gấp 5-10o, để bột 3 – 6 tuần khi gãy xương bánh chè dạng nứt rạn, không di lệch; người cao tuổi không còn đi đứng hoặc có bệnh nội khoa nặng kèm theo.

Điều trị phẫu thuật: Phần vỡ rời xa nhau quá 4mm, gãy vụn khi diện khớp của các mảnh gãy khấp khểnh hoặc có mảnh rời di lệch vào khớp gối.

Tùy theo phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật mà có các chương trình PHCN phù hợp giúp bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường.

2. Điều trị phục hồi chức năng

2.1 Nguyên tắc điều trị phục hồi chức năng

Điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân vỡ xương bánh chè với nguyên tắc kết hợp vật lý trị liệu với các bài tập phục hồi chức năng nhằm tăng tầm vận động khớp gối, tăng sức mạnh cơ, giảm nguy cơ cứng dính khớp gối, giúp người bệnh trở lại các vận động sinh hoạt và chơi thể thao bình thường.

2.2 Điều trị phục hồi chức năng

2.2.1 Các phương thức điều trị vật lý

Hồng ngoại, Parafin: Tác dụng giãn cơ, tăng tuần hoàn, giảm đau, tạo thuận cho các bài tập.

Chườm lạnh: Giai đoạn sưng nóng và sau tập.

Tác dụng chống viêm, giảm phù nề, kích thích tái tạo tổ chức tổn thương

Tác dụng giãn cơ giảm đau, gia tăng tuần hoàn; ức chế dẫn truyền đau

Tác dụng chống viêm (viêm gân, viêm cân cơ, viêm bao hoạt dịch…), gia tăng tuần hoàn; thúc đẩy quá trình hàn gắn tổn thương (xương, dây chằng…), chống xơ dính, cốt hóa mô mềm…

2.2.2 Tập phục hồi chức năng

Mục tiêu:

Lấy lại tầm vận động khớp gối

Kiểm soát đau, phù nề

Kiểm soát có lực cơ tứ đầu đùi

PHCN với điều trị bảo tồn và sau mổ buộc vòng chỉ thép có bó bột tăng cường

Giai đoạn bất động khớp gối:

Tập co cơ tĩnh trong nẹp, bột: 10 giây/ lần, ít nhất 10 lần/ ngày, đặc biệt là cơ tứ đầu đùi.

Tập chủ động các khớp tự do: Háng, cổ chân.

Sau khi bột khô, cho bệnh nhân đứng dậy, tập đi với nạng, chịu trọng lượng một phần lên chân bệnh.

Giai đoạn sau bất động:

Di động xương bánh chè, xoa bóp chống kết dính xung quanh sẹo mổ, xương bánh chè và khớp gối.

Tăng tầm vận động khớp gối bằng kỹ thuật giữ nghỉ và kỹ thuật trợ giúp.

Tập duỗi khớp gối hoàn toàn

Tập gấp gối tăng dần, những ngày đầu tập vận động từ 0 đến 30o

Sau đó tập tăng dần để đạt được tầm vận động gấp 90o sau 6 tuần

Lấy lại tầm vận động khớp gối hoàn toàn sau 12 tuần

Trở lại các hoạt động bình thường sau 6 tháng

PHCN sau néo ép xương bánh chè hoặc các phẫu thuật khác không cần bó bột

Giai đoạn I: từ ngày 01 đến 14 ngày sau phẫu thuật:

Chườm lạnh khớp gối 20 phút cách nhau 2 giờ.

Tập duỗi khớp gối – co cơ tĩnh cơ tứ đầu đùi và toàn bộ chân phẫu thuật.

Tập vận động thụ động khớp gối từ 0 đến 30o trong những ngày đầu, tập tăng dần đến 2 tuần đạt gấp gối 90o.

Tập vận động khớp háng, cổ chân bên bệnh.

Băng chun ép cố định khớp gối, sử dụng nạng nách đến khi di chuyển. Chịu một phần trọng lượng lên chân phẫu thuật.

Giai đoạn II: từ 02 tuần đến 06 tuần sau phẫu thuật

Tập duỗi khớp gối tối đa.

Tập gấp khớp gối tăng dần cho đến hết tầm vận động đến tuần thứ 06.

Tiếp tục chịu trọng lượng lên chân phẫu thuật, bỏ nạng sau 04 tuần.

Tập gia tăng sức mạnh cơ tứ đầu đùi bằng chun, tạ, bao cát hoặc dụng cụ tập khớp gối chuyên dụng.

Tập xuống tấn, tập đạp xe đạp, tập bơi.

Bệnh nhân trở lại các hoạt động bình thường sau 06 tháng.

3. Theo dõi và tái khám

Lần đầu: Sau phẫu thuật 2 tuần.

Các lần tiếp theo cách 1 tháng, đến 6 tháng sau phẫu thuật.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị tại Bệnh viện.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Phục Hồi Chức Năng Khớp Gối Sau Phẫu Thuật Kết Xương Vỡ Mâm Chày

Khớp gối là khớp phức tạp bao gồm hai khớp: khớp giữa xương đùi và xương chày là khớp lồi cầu – ổ chảo, khớp giữa xương đùi và xương bánh chè là khớp phẳng.

– Lồi cầu xương đùi gồm lối cầu trong và lồi cầu ngoài, giữa hai lồi cầu là rãnh liên lồi cầu.

– Diện khớp trên của xương chày gọi là mâm chày, có mâm chày trong tiếp khớp với lồi cầu trong và mâm chày ngoài tiếp khớp với lồi cầu ngoài. Giữa mâm chày trong và mâm chày ngoài có gai mâm chày là các điểm bám của dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau.

– Sụn chêm: Sụn chêm trong hình chữ C nằm đệm giữa mâm chày trong và lồi cầu trong. Sụn chêm ngoài hình chữ O nằm đệm giữa mâm chày ngoài và lồi cầu ngoài. Sụn chêm trong gắn với bao khớp ở phía trong, sụn chêm ngoài gắn với bao khớp ở phía ngoài. Sụn chêm chia khoang khớp làm hai khoang, khoang trên sụn chêm và khoang dưới sụn chêm. Sụn chêm làm cho ổ chảo sâu thêm và sụn chêm trượt ra trước khi gấp gối và trượt ra sau khi duỗi gối.

– Dây chằng: Ngoài bao khớp, khớp gối được tăng cường bởi các dây chằng. Dây chằng bên trong (bên chày) và dây chằng bên ngoài (bên mác). Hai dây chằng chéo nằm ở giữa khớp, bắt chéo nhau hình chữ X là dây chằng chéo trước giữ cho mâm chày không bị trượt ra trước so với lồi cầu và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau so với lồi cầu. Phía trước có gân cơ bánh chè và các mạc phía trong và phía ngoài xương bánh chè. Phía sau có dây chằng khoeo chéo và dây chằng cung khoeo.

Khớp gối có hai loại vận động: vận động bản lề gấp-duỗi và vận động xoay nhưng vận động xoay chỉ thực hiện khi khớp gối ở tư thế gấp.

Mâm chày là phần xương xốp có bề mặt sụn cấu tạo nên một phần khớp gối. Khi người ta đứng hoặc đi lồi cầu xương đùi đè lên mâm chày và trọng lượng của cơ thể dồn lên mâm chày để xuống cẳng chân. Như vậy mâm chày là phần xương chịu sức nặng của toàn bộ cơ thể.

Mâm chày là phần xương xốp nên khi gãy dễ liền xương nhưng vì là xương xốp nên khi gãy dễ bị lún mất xương. Mâm chày có mặt sụn khớp nên khi gãy sẽ làm mất phẳng sụn khớp, bề mặt sụn khớp sẽ bị khấp khểnh. Khi nắn chỉnh không chính xác sẽ gây hạn chế vận động khớp và làm nhanh thoái hóa khớp về sau.

Vì là xương xốp nên sau phẫu thuật kết xương bệnh nhân không được phép đi chống chân ngay sau phẫu thuật do mâm chày sẽ bị bung ra dưới sức nặng của cơ thể. Thời gian để xương liền khoảng ba tháng vì vậy sau ba tháng bệnh nhân mới được phép đi chống chân xuống đất và tăng lực chống chân dần dần cho đến khi chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể mà không gây đau.

Tùy theo loại gãy xương, kiểu kết xương và trọng lượng bệnh nhân mà thời gian được phép đi chống chân có thể thay đổi nhưng không được dưới ba tháng. Thời gian bình phục để có thể đi lại bình thường, gấp duỗi gối bình thường thông thường khoảng 6 – 8 tháng.

Có nhiều cách phân loại gãy mâm chày của các tác giả khác nhau nhưng đều có những điểm chung là căn cứ vào loại gãy hình nêm, nén ép, hai bình diện.

– Hohl (1958) phân gãy mâm chày thành gãy có di lệch và gãy không di lệch. Gãy di lệch gồm nén ép khu trú, nén ép tách, lún hoàn toàn bình diện và gãy nát.

– Moore (1967) phân gãy mâm chày thành 5 loại:

+ Loại I: Gãy tách mâm chày trong theo mặt phẳng trán

+ Loại II: Gãy hoàn toàn một bình diện mà đường gãy bắt đầu ở khoang đối diện qua gai chày đến bình diện gãy.

+ Loại III: Gãy bong bờ chày (các loại gãy này thường có tỉ lệ cao kèm theo chấn thương mạch máu, thần kinh).

+ Loại IV: Chấn thương nén ép bờ chày kèm với tổn thương dây chằng đối bên.

+ Loại V: Gãy bốn phần mà gai chày bị tách ra từ bình diện và thân xương chày.

Phân loại của Moore đã tính đến hậu quả mất vững khớp gối.

– Schatzker (1979) phân ra 6 loại:

+ Loại I (gãy tách): Gãy chẻ hoàn toàn mâm chày ngoài tạo thành mảnh gãy hình chêm.

+ Loại II (lún-tách): Gãy chẻ mâm chày ngoài mà phần mặt khớp còn lại bị lún vào hành xương.

Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài Loại I (gãy tách) mâm chày ngoài

Hình 3: Gãy mâm chày loại I và II (phân loại của Schatzker)

+ Loại III: Gãy lún hoàn toàn trung tâm của mâm chày ngoài mà bờ xương còn nguyên vẹn.

Loại III: Gãy lún trung tâm mâm chày ngoài Loại IV: Gãy mâm chày trong

Hình 4: Gãy mâm chày loại III và IV (phân loại của Schatzker)

+ Loại V: Gãy 2 diện mâm chày (trong và ngoài) mà đường gãy thường tạo thành chứ “Y” đảo ngược.

+ Loại VI: Gãy loại V có sự tách ra giữa hành xương và thân xương, có thể có độ nát khác nhau của một hay hai diện mâm chày và mặt khớp.

Loại V: Gãy hai diện mâm chày Loại VI: Gãy loại V có tách hành và thân xương

Hình 5: Gãy mâm chày loại V và VI (phân loại của Schatzker)

Phân loại của Schatzker hiện nay được sử dụng phổ biến vì nó tính đến phương pháp kết xương, hậu quả mất vững khớp. Honkonen và Jarvinen gần đây đã sửa loại VI trong phân loại của Schatzker thành hai loại nhỏ là nghiêng trong và nghiêng ngoài để tính đến kết quả chức năng khớp trong điều trị với di lệch gập góc còn lại.

– Phân loại của hiệp hội chấn thương chỉnh hình (OTA) dựa trên phân loại của AO/ASIF: đầu trên xương chày được qui định là đoạn 41 và được chia thành 3 loại chính.

+ Loại A là gãy ngoài khớp chia ra A1, A2 và A3

Hình 6: Loại A (phân loại AO)

+ Loại B là gãy một phần mặt khớp, chia ra :

Hình 7: Loại B (phân loại AO)

+ Loại C là gãy hoàn toàn mặt khớp, chia ra:

C1: gãy đơn giản mặt khớp và hành xương.

C2: gãy đơn giản mặt khớp và gãy nhiều mảnh hành xương.

C3: gãy nhiều mảnh mặt khớp.

Hình 8: Loại c (phân loại AO)

– Giảm đau, giảm nề tại chỗ, tăng cường dinh dưỡng kích thích làm mau liền xương

– Duy trì trương lực cơ, phục hồi sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương

– Phục hồi tầm vận động khớp gối trở lại bình thường.

2.2.1. Giai đoạn 1: giai đoạn chưa được chống tỳ sức nặng lên chân tổn thương (thường kéo dài 3 tháng đầu)

+ Duy trì sức cơ, trương lực cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

+ Bất động tương đối khớp gối nhưng duy trì tầm vận động các khớp lân cận.

+ Đặt chân (cổ chân và gối) cao hơn mức tim (20 – 30cm trên mặt giường).

+ Chườm lạnh bằng túi nước đá hoặc túi nước lạnh lên vùng khớp gối cách lớp băng gạc và lớp khăn lót dày 1cm thời gian 10 – 15 phút/lần, 3 – 5 lần/ngày.

+ Tập gấp duỗi khớp cổ chân chủ động hết tầm 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Tập co cơ tĩnh (co cơ đẳng trường) cơ đùi và cơ cẳng chân 10 lần tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Nâng chân lên khỏi mặt giường ở tư thế gối duỗi giữ càng lâu càng tốt sau đó hạ xuồng nghỉ 5 phút rồi nâng tiếp 10 lần, tăng dần lên 20 lần cho mỗi lần tập, tập 2 lần/ngày.

+ Khi đau giảm, khuyến khích bệnh nhân chủ động gấp và duỗi gối (loại trọng lực chi) bên tổn thương với biên độ càng rộng càng tốt trong phạm vi có thể chịu đựng được.

+ Giảm nề, tăng cường tuần hoàn dinh dưỡng để kích thích liền sẹo và can xương.

+ Duy trì trương lực cơ, tăng cường sức cơ đùi và cẳng chân bên tổn thương.

+ Điều trị nhiệt nóng vào khớp gối tổn thương bằng bức xạ hồng ngoại hoặc túi nhiệt 20 phút/lần, 2 – 3 lần/ngày.

+ Điều trị từ trường vào khớp gối cường độ 0,8 – 1,5 mT, 20 phút/lần, 2 lần/ngày để kích thích can xương.

+ Tiếp tục tập vận động khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi mà không tì sức nặng lên chân tổn thương.

+ Tập đi bằng nạng không tì lên chân tổn thương.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi không tì lên chân tổn thương.

+ Chân tổn thương chịu sức nặng tăng dần lên 25% trọng lượng cơ thể.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng tới 25% trọng lượng cơ thể.

+ Tăng dần sức nặng lên chân tổn thương dần dần đạt tới 100% trong lượng cơ thể.

+ Tiếp tục điều trị nhiệt nóng và từ trường như trước.

+ Tiếp tục tập gấp – duỗi khớp cổ chân, co cơ tĩnh và nâng chân lên khỏi mặt giường như trước.

+ Tập đi bằng nạng hoặc khung tập đi có tì chân tổn thương tăng dần sức nặng để đạt tới 100% trọng lượng cơ thể vào cuối tháng thứ 6.

+ Tập hòa nhập gồm tự phục vụ và trở lại công việc.

+ Tập dáng đi bình thường, cân đối không nạng.

+ Tập lên xuống cầu thang và đi trên các địa hình phức tạp.

+ Tập tự phục vụ và trở lại công việc

+ Tập đi bộ nhanh hoặc chạy bộ nhẹ nhàng.

Mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS. Dùng một thước chia các khoảng cách đều nhau từ 1 – 10 cho người lớn và các hình vẽ các vẻ mặt cho trẻ em. Hướng dẫn để bệnh nhân tự đánh giá có sự hỗ trợ của người đánh giá.

Hình 9: Thang điểm đánh giá mức độ đau VAS

Bảng 1: Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

Đo vòng chi so sánh với bên lành.

Sử dụng thước đo góc hai cành, đo và đánh giá kết quả theo phương pháp zero.

Lượng giá theo thang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985), tổng 100 điểm, trong đó dáng đi 5 điểm, đau 25 điểm, chống đỡ xuống chân tổn thương 5 điểm, sưng nề 10 điểm, kẹt khớp 15 điểm, lên xuống cầu thang 10 điểm, tính ổn định của khớp 25 điểm, ngồi xổm 5 điểm:

hang điểm Lysholm (Lysholm Knee Scale 1985)

Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2015). Vật l‎ trị liệu và Phục hồi chức năng. Giáo trình dùng cho đại học. Bộ môn VLTL – PHCN HVQY. NXB QĐND.

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Gai Mâm Chày Khớp Gối Có Nguy Hiểm Không? Có Chữa Được Không?

1. Nguyên nhân gai mâm chày khớp gối

Nguyên nhân gây gai mâm chày khớp gối là do sự thoái hóa theo thời gian ở những người lớn tuổi. Hoặc do cơ thể gặp phải những loại chấn thương khiến cho xương bánh chè bị vỡ, bề mặt mâm chày xuất hiện những tổn thương.

Khi bị tổn thương ở mâm chày, canxi trong cơ thể có xu hướng tự động bù đắp tại vị trí đó nhằm làm lành vết thương. Tuy nhiên, một phần lượng canxi sẽ bị lắng đọng tại phía ngoài. Lâu dài sẽ tạo thành những chiếc gai tại vùng mâm chày, gây ra các cơn đau nhức và khó chịu vô cùng.

2. Triệu chứng gai mâm chày khớp gối

2.1 Đau khớp gối

Cơn đau xuất hiện nhiều, đặc biệt là sau những lúc vận động mạnh, chơi thể thao,…Khi thực hiện động tác nhún gối sẽ nhận thấy rõ rệt các cơn đau nhói, điển hình là khi di chuyển lên xuống cầu thang. Cơn đau sẽ dần lan tỏa ra nhiều vùng xung quanh đầu gối, lâu dần khiến người bệnh đi lại khó khăn, đi khập khiễng hoặc đứng không vững.

2.2 Cứng khớp gối

Thường xuyên cảm thấy phần khớp gối của mình xuất hiện tình trạng căng cứng, đặc biệt là sau những giấc ngủ dài.

2.3 Tiếng kêu răng rắc, lạo xạo ở các khớp

Phát ra một cách rõ rệt và dễ nhận thấy khi người bệnh gai mâm chày khớp gối tiến hành những cử động và di chuyển khớp gối khi đi lại, làm việc và vui chơi.

3. Vật lý trị liệu điều trị gai mâm chày khớp gối

3.1 Chiếu tia hồng quang

Được xem là một trong những phương pháp vật lý trị liệu chữa gai mâm chày khớp gối phổ biến hiện nay. Phương pháp này góp phần tăng tuần hoàn máu và sát khuẩn. Thông qua việc sử dụng sức nóng và nhiệt được phát ra từ những tia hồng quang. Khi chiếu tia hồng ngoại, người bệnh sẽ cảm nhận được những cơn đau thuyên giảm, hiện tượng co cứng cơ cũng giảm sút nhiều.

3.2 Sóng vi ba

Đây là phương pháp vật lý trị liệu sử dụng các loại bức xạ với tần số cao. Góp phần tác động đến phần khớp bị tổn thương, thúc đẩy sự tuần hoàn của các mạch máu, tiêu viêm, giảm đau nhức và đẩy nhanh quá trình hồi phục bệnh gai mâm chày khớp gối.

3.3 Tập thể dục

Bên cạnh đó, người bệnh cũng nên thực hiện các bài tập đơn giản để hỗ trợ phục hồi chức năng vận động của khớp gối. Những bài tập đơn giản như co duỗi chân, gập chân sẽ giúp hạn chế tình trạng co cứng các cơ, từ đó giúp các khớp được trở nên linh hoạt hơn.

Chúng ta vừa tìm hiểu một vài thông tin về bệnh gai mâm chày khớp gối, đây là một loại bệnh gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của người bệnh, nên cần được nhanh chóng phát hiện và có biện pháp điều trị thích hợp.

Nhận Biết Gai Mâm Chày Khớp Gối Và Cách Khắc Phục Hiệu Quả

Nguyên nhân hình thành gai mâm chày khớp gối

Gai mâm chày khớp đầu gối hình thành do sự thoái hoá theo thời gian, thường xảy ra ở người lớn tuổi. Hoặc cơ thể gặp chấn thương khiến xương bánh chè bị vỡ, bề mặt mâm chày xuất hiện tổn thương.

Khi mâm chày bị tổn thương, canxi trong cơ thể tự động bù đắp để làm lành vết thương. Nhưng một phần canxi bị lắng đọng phía ngoài. Lâu dần tạo thành gai ở vùng mâm chày. Từ đó, gây ra những cơn đau nhức khó chịu.

Triệu chứng gai mâm chày khớp gối

Thông thường khi bị gai mâm chày ở đầu gối, thường có những dấu hiệu sau:

Khớp gối bị cứng khó cử động là dấu hiệu của gai mâm chày khớp gối

– Khớp gối bị cứng, khó cử động, nhất là vào sáng sớm khi mới ngủ dậy

– Vùng khớp gối bị sưng đỏ. Khi chạm vào thấy ấm, nóng.

– Khi di chuyển, vận động khớp gối phát ra tiếng kêu răng rắc, lục cục.

– Khi vận động nhiều xuất hiện những cơn đau nhói lan toả ra xung quanh.

– Khi nhún khớp xuống, người bệnh nhận biết rõ tình trạng đau đầu gối rõ rệt, đặc biệt khi lên xuống cầu thang.

– Một số bệnh nhân có dấu hiệu sưng to, đau ở vùng xương bánh chè. Thậm chí kèm hiện tượng sốt nhẹ.

Gai xương mâm chày là một phần của quá trình thoái hóa khớp gối, gây đau nhức và cản trở khả năng vận động. Ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và công việc của người bệnh.

Vậy điều trị gai mâm chày khớp gối như thế nào?

Gai mâm chày đầu gối là tình trạng bệnh thoái hoá. Nên điều trị thường giúp giảm đau, hạn chế bệnh tiến triển nặng. Thông thường điều trị theo 3 phương pháp:

1. Điều trị bằng thuốc tây y

Tuỳ mức độ bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định các loại thuốc cơ bản giảm đau nhanh, chống viêm như: Paracetamol, Meloxicam, Etoricoxia, Diclofenac, Piroxicam…Tuy nhiên thuốc cần có sự chỉ định của bác sĩ, bệnh nhân không tự ý mua thuốc về dùng. Không đúng liều lượng hoặc lạm dụng giảm đau có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho dạ dày, gan thận.

2. Điều trị bằng phẫu thuật

Phương pháp phẫu thuật có thể giúp người bệnh cử động bình thường, không bị ảnh hưởng bởi triệu chứng đau nhức do bệnh gây ra.

Một số biện pháp phẫu thuật được áp dụng tại các bệnh viện lớn như  nội soi khớp, cắt gai khớp…Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào cũng có thể thực hiện phẫu thuật. Bởi phẫu thuật chỉ được áp dụng khi dùng thuốc không có tác dụng hoặc bệnh có nhiều biến chứng xảy ra. Đặc biệt, phẫu thuật có thể gây ra những hệ lụy nguy hiểm. Vì vậy, người bệnh cần lưu ý kỹ trước khi thực hiện.

3. Điều trị bằng vật lý trị liệu

Chữa gai khớp gối bằng vật lý trị liệu thường áp dụng khi kết hợp chung với các biện pháp khác, để hồi phục chức năng xương khớp, thúc đẩy nhanh thời gian điều trị bệnh. Phương pháp này sẽ được chuyên gia vật lý trị liệu bài tập không có sự hỗ trợ của máy móc hoặc có sự hỗ trợ từ máy móc.

Song song, bác sĩ có thể lồng ghép thêm các biện pháp trị liệu khác như dùng sóng ngắn trị liệu, hồng ngoại trị liệu, siêu âm trị liệu….Tuy nhiên, liệu pháp này cũng cần tuỳ thuộc vào mức độ gai xương ở vùng đầu gối mà bác sĩ đưa ra các liệu pháp phù hợp.

 4. Điều trị gai khớp gối bằng Đông y

Điều trị gai khớp gối bằng đông y chủ yếu là bấm huyệt và dùng thuốc.

– Bấm huyệt, châm cứu:

Phương pháp này có tác dụng lưu thông khí huyết, giúp quá trình di chuyển trơn tru, linh hoạt hơn.

– Thuốc Đông y:

+ Bài thuốc 1: Độc hoạt, Tế tâm, Sinh địa, Đẳng sâm, Quế chi, Phòng phong, Đương quy, Phục linh, Ngưu tất, Bạch thược, Tang ký sinh, Cam thảo, Đỗ trọng, Tần giao, Xuyên khung. Tất cả đem sắc, uống ngày 1 thang.

+ Bài thuốc 2: Lá lốt, rễ cây xấu hổ, cỏ xước, Quế chi, Thiên niên kiện, Hà thủ ô, Thổ phục Linh, Sinh địa. Sắc ngày 1 thang, chia đều uống trong ngày.

– Hỗ trợ điều trị gai mâm chày khớp gối bằng thảo dược

Để khắc phục những tác dụng phụ của thuốc tây y, và khắc phục hạn chế của bài thuốc đông y phải đun sắc cầu kỳ. Các chuyên gia khuyên người bệnh nên dùng sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên. Đặc biệt những sản phẩm có chứa các thành phần như Tang ký sinh, Phòng phong, Xuyên khung, Thổ phục linh, Bạch thược, Đương Quy…Nhằm cường kiện gân cốt, hỗ trợ điều trị các bệnh viêm xương khớp, phong thấp, thoái hoá xương khớp….

Với những thông tin về bệnh gai mâm chày khớp gối ở trên. Hy vọng bạn đọc có thêm thông tin kiến thức về bệnh. Tuân thủ chỉ định của bác sĩ bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng.