【#1】Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng 6 Trong Phật Giáo Nam Tông

Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta.

Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā.

Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.

Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:

1/ Bồ tát giáng trần

2/ Bồ tát xuất gia

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo

5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Mơ màng ứng hiện mộng lành

Uy nghiêm bạch tượng hóa thành thánh thai

Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.

Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:

Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.

Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.

Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.

Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.

Xa nhau chẳng phải phụ nhau

Quyết tìm phương dứt khổ đau muôn loài

Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.

Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.

Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: “Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc”. Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.

Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.

Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.

Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.

3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.

Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.

Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.

Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân – Dhammacakkappavattanasutta.

Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:

1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian

2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục

3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn

4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.

Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.

Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo

4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.

Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.

Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.

Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.

Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.

Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói:

– Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao?

– Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu!

Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.

Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.

Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.

Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo.

Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được.

Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.

Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.

5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.

Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:

Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi.

Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau.

Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:

– Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).

Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:

– Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.

Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy – gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.

Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn.

Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

theo: Báo Giác Ngộ Online

【#2】Lễ Cúng Đầy Tháng Miền Trung Cần Chuẩn Bị Những Gì?

Cúng thôi nôi hay cúng đầy tháng cho bé là một dịp để gia đình bày tỏ lòng cảm ơn đến các vị thần linh trên dưới đã cho một sinh linh bé nhỏ xuất hiện và mang tới niềm hân hoan, vui mừng cho cả gia đình. Nghi thức cúng đầy tháng còn là để các thành viên khác trong gia đình khấn vái cho con cháu mình được bình an vô sự, tại qua nạn khỏi và gặp được nhiều may mắn. Chính vì sự quan trọng và vô cùng ý nghĩa của nghi lễ mà các bậc phụ huynh đều muốn tổ chức cho con mình một buổi lễ hoàn hảo nhất. Vậy làm thế nào để chuẩn bị một lễ cúng đầy tháng miền Trung đầy đủ nhất, video này sẽ cung cấp tất cả thông tin cho bạn.

Thông qua video này, Đồ Cúng Tâm Linh sẽ giải thích cho các quý gia đình hiểu được vì sao bắt buộc phải luôn chuẩn bị 13 chén chè dĩa xôi cho nghi lễ cúng thôi nôi. Buổi lễ thôi nôi này có ý nghĩa như thế nào? Cũng như để các quý gia đình xem cách trình bày, sắp xếp những lễ vật cúng như thế nào là phù hợp và đúng nhất cho lễ cúng đầy tháng miền Trung.

Hướng dẫn lễ cúng đầy tháng theo phong tục miền Trung

© Bản quyền thuộc về Đồ Cúng Tâm Linh

© Copyright by Đồ Cúng Tâm Linh ☞ Do not Reup

🌎 CÔNG TY CP DV ĐỒ CÚNG T M LINH

☎️ Tổng đài tư vấn: 1900.636.815

📞 Hotline/ Zalo/ Viber: 0969.69.59.19

📌 Địa chỉ: 296 Đường Nguyễn Văn Khối

P.9, Q. Gò Vấp Herodota.com 📩 Email: [email protected]

Để Theo Dõi & Cập Nhật Thông Tin Của Đồ Cúng Tâm Linh:

➡️ Website: https://docungtamlinh.com.vn/

Ⓕ Fanpage: https://www.facebook.com/DoCungOnline/

🎞 Kênh Youtube: http://bit.ly/docungtamlinh

🛑 Instagram: https://www.instagram.com/dichvudocun…

dịch vụ đồ cúng,bai cung tam linh,do cung tam linh,do cung tron goi,cung day thang be trai,day thang be gai,cung day thang thoi noi,thoi noi be trai,cung day thang,cách bày mâm cúng đầy tháng,mâm cỗ cúng đầy tháng,không cúng đầy tháng có sao không,trái cây cúng đầy tháng.

Xin chân thành cảm ơn.

【#3】Cúng Rằm Tháng 7. Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Bài Cúng Rằm Tháng 7

Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Cúng rằm tháng 7.

Về sau, người ta thường gọi ngày Cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu, và được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 âm lịch hằng năm. Về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Cho nên ngày nay mới có câu “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Tháng 7 âm lịch có hai lễ lớn là Lễ cúng cô hồn (Cúng rằm tháng 7) và Lễ Vu Lan

Đa phần mọi người thường hay nhầm lẫn Lễ Vu Lan và Cúng rằm tháng 7 là 1. Tuy nhiên trên thực tế mục đích của hai ngày lễ này là hoàn toàn khác nhau.

Lễ Vu Lan xuất phát từ sự tích Bồ tát Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Theo kinh Vu Lan, Mục Kiều Liên sau khi tu luyện thàn thông quảng đại, ông tưởng nhớ mẹ mình là bà Thanh Đề và muốn biết mẹ mình đang chịu tình cảnh thế nào. Ông dùng mắt phép tìm mẹ và thấy mẹ ông bị đày làm ngạ quỷ. Vì gây nhiều nghiệp ác nên phải xuống tận cõi quỷ. Ông đem cơm xuống tận ngã quỷ dâng cho mẹ. Mẹ ông vì chịu đói lâu ngày nên che cơm lại không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, cho nên khi cơm đến miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Như vậy, về bản chất thì Cúng cô hồn và Lễ Vu Lan đều được gọi là rằm tháng 7 nhưng ý nghĩa của lễ cũng hoàn toàn khác nhau, nên sẽ có những cách làm lễ khác nhau mà mọi người cần chú ý.

Các bài khấn cúng rằm tháng 7

Cúng rằm tháng 7 hay còn gọi là cúng Tết Trung Nguyên. Vào ngày này có những nghi thức cúng như sau: Cúng Phật, Cúng Thần Linh, Cúng Gia Tiên, Cúng thí thực cô hồn và Cúng phóng sinh. Nhiều gia đình Việt thường cúng rằm tháng 7 vào buổi chiều tối ngày 14/7 hoặc 15/7 âm lịch. Người ta quan niệm, đây là thời gian các vong linh trở về địa ngục. Để tránh sự quấy rối của các vong linh hay cô hồn, mọi người cần phải “hối lộ” cho những vong linh đấy. Chúng ta cần nắm rõ để thực hiện chuẩn các nghi thức cúng theo đúng truyền thống văn hóa Việt Nam.

Cúng phật

Cúng và thụ lộc ngay tại nhà. Mọi người có thể chuẩn bị cơm chay hoặc đơn giản là mâm ngũ quả. Khi cúng, chúng ta sẽ đọc kinh Vu Lan.

Cúng thần linh và gia tiên

Lễ cúng này xuất phát từ quan niệm về công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào đúng mùa vụ thu hoạch mùa màng. Người nông dân mong muốn những ngày này mọi việc trở nên trôi chảy, tránh sự quấy nhiễu của vong hồn, họ thường hay cầu xin thần linh, thổ địa bắt giam các yêu ma, oan hồn để tránh sự những nhiễu. Ngày 15/7, khi mọi thứ mùa vụ đã hoàn tất, người nông dân sẽ thường làm lễ cúng bái tạ ơn thần lịn và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên, cũng như cầu mong cho các cô hồn vong linh không nơi nương tựa được siêu thoát, mang lại bình yên cho mọi nhà. Mâm cơm thường là cúng chay hoặc cúng mặn tùy theo căn số của mỗi người.

Cúng thí thực cô hồn (Cúng chúng sinh)

Ngoài việc cúng Phật, cùng thần linh và gia tiên, còn một lễ nữa là cúng Cô hồn (còn gọi là cúng chúng sinh), cúng bố thí cho các cô hồn sa cơ lỡ vận không nơi nương tựa.

* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

* Sắm lễ:

  • Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.
  • Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).
  • Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.
  • Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).
  • Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)
  • Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời. Cúng cô hồn chỉ cúng đồ chay, không cúng đồ mặn vì sẽ khơi gợi tham, sân, si.
  • Cúng cô hồn phải đặt lễ cúng trước cửa nhà hoặc nơi đang buôn bán.
  • Kết thúc buổi cúng ngoài trời, gạo, muối được vãi ra sân, đường, sau đó là đốt vàng mã. Một số nơi có xảy ra tình trạng cướp cỗ cô hồn, đấy được xem là “cô hồn sống”. Nếu “cô hồn sống” cướp càng nhiều thì có nghĩa là gia đình đã mua chuộc được cô hồn không đến quấy phá.
  • Nên cúng buổi chiều, tối và không nên cúng sau 21 giờ thì các cô hồn mới dễ nhận được đồ cúng.
  • Cúng chúng sinh xong, đốt đồ mã ngay tại chỗ để các cô hồn nhận và đi ngay.
  • Nghiêm cấm không được giật lại đồ từ “cô hồn sống”, vì giật lại sẽ mang đến những điều vô cùng xui xẻo tai hại cho gia chủ.
  • Văn khấn cúng cô hồn rằm tháng 7

Cúng phóng sinh

Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ hoặc một số sinh vật ngoại lai vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.

Sau khi thực hiện đầy đủ các bài khấn và nghi thức cúng rằm tháng 7, chúc gia chủ và gia đình sẽ xua đuổi được tà ma, oan hồn vất vưởng, gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống và công việc làm ăn.

Bài tiếp theo: Tránh 30 điều đại kỵ này để được bình an trong tháng 7 cô hồn

【#4】Cúng Rằm Tháng Chạp: Cách Sắm Lễ, Thời Gian Làm Lễ Và Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất

Theo quan niệm của người Việt, ngày rằm được tính theo âm lịch và nó vào ngày 15 âm lịch hàng tháng. Lễ ngày rằm được gọi là lễ Vọng.

Thông thường trong năm có 3 ngày rằm được xem là lễ lớn gồm: Rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy và rằm tháng Chạp.

Trong đó, rằm tháng Chạp còn được coi là lễ cúng tổng kết cho 1 năm. Vì thế, lễ cúng Rằm tháng Chạp thường được chuẩn bị chỉn chu, tươm tất và nhiều nghi lễ, thủ tục hơn các lễ cúng rằm khác trong năm.

Năm nay, ngày rằm tháng Chạp năm nay sẽ rơi vào ngày chủ Nhật, tức ngày 20 tháng 1 năm 2021.

Tùy theo từng địa phương, từng gia đình mà phong tục này có phần khác biệt, nhưng về cơ bản vẫn giữ những nét chung trong nghi lễ cúng.

Trong lễ cúng rằm tháng Chạp, có 3 vấn đề quan trọng nhất mà ai cũng đều cần hiểu và biết, đó là cách sắm lễ cúng, thời gian làm lễ và soạn văn khấn để cúng rằm tháng Chạp.

1. Cách sắm lễ cúng rằm tháng Chạp:

Đồ lễ cúng rằm tháng Chạp cần phải chuẩn bị lễ dâng lên thần linh và gia tiên. Tùy theo từng gia đình có thể chuẩn bị mâm lễ chay hoặc lễ mặn.

Đối với lễ cúng chay dâng lên các vị thần linh và tổ tiên bao gồm: Hương, hoa tươi, hoa quả, trầu cau, nước sạch, nến hoặc đèn dầu, tiền vàng…

Đối với lễ cúng mặn bao gồm: Thịt luộc, xôi (hoặc bánh chưng), giò/chả, các món mặn khác và rượu. Ngoài ra, cúng gà được nhiều gia đình lựa chọn.

Bởi theo quan niệm dân gian của người Việt, gà trống biểu tượng cho các đức tính Trí, Dũng, Nhân.

Gà trống mỗi sáng thức dậy sớm để đánh thức vạn vật thức giấc và chào đón ông mặt trời bình minh.

Sự oanh hùng, vẻ đẹp của chú gà trống vào buổi sáng khiến cho vạn vật đều nể trọng. Vì vậy, vào các ngày lễ người Việt thường làm cỗ lễ với một chú gà trống.

2. Thời gian làm lễ cúng Rằm tháng Chạp:

Ngoài việc sắm lễ cúng rằm tháng Chạp sao cho đúng ý nghĩa, thì thời gian làm lễ cúng rằm tháng Chạp cũng rất được nhiều người chú trọng.

Mặc dù không ai quy định việc làm lễ cúng rằm tháng Chạp khi nào thì tốt, nhưng nếu làm lễ cúng rằm tháng Chạp thì thường không nên tiến hành lễ cúng quá sớm hay quá muộn.

Gia chủ có thể bắt đầu làm lễ cúng từ ngày 14 cho tới ngày 15 tháng Chạp, chú ý không làm lễ quá khuya, tốt nhất là trước khi trời tối.

Thông thường người dân vẫn cúng Rằm tháng Chạp vào chiều tối ngày 14 âm lịch và sáng ngày 15 âm lịch.

3. Bài văn khấn cúng rằm tháng Chạp như sau:

– Văn khấn Thổ Công cùng chư vị thần khác:

Nam mô A Di Đà Phật! (đọc 3 lần và sau cùng lạy 3 lạy)

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Đông thần quân.

Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long mạch.

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức tôn thần.

Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần.

Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Tín chủ con là: …

Ở tại: …

Hôm nay, ngày … tháng … năm … , gặp tiết Rằm tháng Chạp, Tín chủ con thành tâm sắm lễ hương hoa, trà quả, kim ngân, thắp nén hương thơm, dâng lên trước án, thành tâm kính mời: ngài Kim niên đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng, chư vị Đại vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ địa, Long mạch tôn thần, các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Con cúi xin các giáng lâm trước án, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con được cả nhà yên vui, công việc thuận lợi, tài lộc tăng tiến, tâm đạo được sáng suốt, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, kính lễ trước án, cúi xin được các các Ngài phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (đọc 3 lần và sau cùng lạy 3 lạy).

– Văn khấn cúng gia tiên:

Nam mô A Di Đà Phật! (đọc 3 lần và sau cùng lạy 3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ khảo, Tổ tỷ).

Tín chủ (chúng) con là: …

Ở tại: …

Hôm nay là ngày… tháng… năm, gặp tiết Rằm tháng Chạp.

Tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án, thành tâm kính mời các ngài: Bản cảnh Thành hoàng, chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần, cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội, ngoại họ…, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời chư vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho chúng con gia đình hòa thuận, sức khỏe dồi dào, công việc phát tài, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (đọc 3 lần và sau cùng lạy 3 lạy).

theo INFONET

【#5】Cỗ Chay Cúng Rằm Tháng Giêng Tiền Triệu: Thành Tâm Hay Khoe Mẽ?

Khi chuẩn bị lễ lạt cúng Rằm tháng Giêng, nhiều nhà có điều kiện tổ chức hẳn đại tiệc chay tại gia. Họ xem đó là cơ hội để phô ra những mâm cỗ chay long trọng, tốn kém và được cho là thành tâm…

Cỗ chay tiền triệu

Chị Nguyễn Thị Huyền Trang ở Nguyễn Phong Sắc (Cầu Giấy, TP. Hà Nội) vốn là một “tín đồ” của các món ăn chay. Chính vì thế, chị Trang rất coi trọng việc ăn chay ngày Rằm và mùng Một hàng tháng.

Không những thế, chồng chị Trang là giám đốc một công ty xây dựng nên việc chuẩn bị mâm cỗ ngày lễ cúng gia tiên càng được họ chú trọng hơn. Đích thân anh đưa vợ đi đặt cỗ chay.

Chị Trang chia sẻ với PV: “Trước đây, mỗi dịp Tết, cả nhà tôi cùng về quê để thắp hương các cụ. Hai vợ chồng thường ghé qua một ngôi chùa lớn ở Bắc Ninh để đặt các sư thầy ở đó làm cỗ chay cho Rằm tháng Giêng luôn.

Gần đây, do công việc bận rộn nên đến sát ngày chúng tôi mới có thời gian đi đặt cỗ chay “cấp tốc” tại một cửa hàng cỗ chay với giá khá cao. Tính một mâm cỗ hơn chục món cũng có giá vài triệu đồng.

Năm nay, ngoài làm mâm cỗ cúng gia tiên, vợ chồng tôi còn tổ chức tiệc chay tại nhà mời bạn bè thưởng thức. Tuy có tốn kém nhưng mang tiếng là mời khách thì dù đãi bằng món chay cũng phải thật tươm tất, hoành tráng chứ không thể để người ta chê cười được”.

Chị Trang bật mí, mâm cỗ mà chị đặt thuộc hàng “thượng lưu” theo phân loại của nhà hàng, với 15 món chay như: Súp yến, cá thu sốt giá 98.000 đồng/tô, gà đen rang muối giá 120.000 đồng/đĩa, trứng hấp 45.000 đồng/10 quả, giò lụa 45.000 đồng/đĩa, sườn xào chua ngọt 85.000 đồng/đĩa, đậu phụ sốt cà chua 35.000 đồng/đĩa cùng nhiều món khác nữa giá lên đến hơn 2 triệu đồng.

Khi chúng tôi thắc mắc về tên gọi của các món chay, chị cho biết tất cả đều được làm bằng bột mì nhưng gọi bằng tên các món như vậy để cho sang mâm cỗ.

Trong xã hội hiện đại, với không ít gia đình có điều kiện, chuyện lễ lạt không chỉ dừng lại ở mâm cỗ tươm tất bày lên ban thờ mà còn là dịp để họ chứng tỏ độ giàu có.

Khi chúng tôi thắc mắc có nên quá tốn kém để tổ chức rình rang như vậy không, chị Trang bày tỏ: “Không tổ chức thì thôi, nếu đã làm thì dù là món chay cũng phải cho ra trò.

Còn nhớ năm ngoái, tôi có dịp đi ăn cỗ chay ở nhà một đối tác làm ăn với chồng. Họ cũng tổ chức 15 mâm cỗ chay. Khi dọn ra thấy vài món lèo tèo như nấm, bún, đậu phụ… khiến ai nấy đều lắc đầu.

Sau bữa ăn đó là bao lời xì xầm, rồi chê bai cỗ bàn đạm bạc, sơ sài. Tôi nghe còn thấy ngượng thay cho gia chủ. Rút kinh nghiệm, vợ chồng tôi thống nhất là dù có tốn kém một chút nhưng đặt cỗ chay không được thua kém cỗ mặn”.

Đủ “sơn hào, hải vị”

Để làm rõ hơn nữa về cơn sốt của các mặt hàng đồ chay trong dịp Rằm tháng Giêng, chúng tôi tìm đến một cơ sở chuyên nấu cỗ chay trên đường Kim Mã (Ba Đình, Hà Nội).

Được biết đây là thời điểm hốt bạc của các cơ sở này. Nhiều cửa hàng còn không dám nhận thêm đơn đặt hàng vì không đủ người làm. Anh Trần Anh Văn, quản lý của nhà hàng này cho biết:

“Thời gian sau Tết, mọi người thường tìm đến những quán bán đồ chay để thưởng thức. Sát rằm tháng Giêng, chúng tôi không dám nhận thêm đơn đặt hàng nữa”.

Nhiều người ăn chay nhưng lại chú trọng đến việc khoe mẽ, cỗ bàn long trọng.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ngoài những mâm cỗ chay tiền triệu được những gia đình có điều kiện đặt hàng, thì những khách hàng bình dân có thể đặt mâm cỗ với giá 400.000 đồng cho 9 món chay và 1,2 triệu đồng cho mâm cỗ với 13 món chay.

Cỗ chay giờ đây đã không còn đơn thuần là rau, dưa, củ quả luộc mà cũng cần cầu kỳ hơn với những món ăn phong phú, đầy màu sắc không kém cỗ mặn như: Xôi vò hạt sen, gà hấp lá chanh, giò lụa, thịt quay, cá xốt ngũ liễu, tôm chiên, sườn xào chua ngọt, khoai lệ phố, nem hoa quả, rau xào ngũ sắc, canh nấm…

Để làm rõ hơn về nguồn gốc của việc ăn chay trong giáo lý nhà Phật, PV đã có cuộc trao đổi với Đại đức Thích Thanh Hưng – trụ trì chùa Trinh Sơn (huyện Thanh Liêm, Hà Nam).

Thầy Hưng chia sẻ: “Để nói về vấn đề này cần phải nhắc đến những giới luật mà nhà Phật đã dạy. Trong đó có việc cấm các Phật tử không được sát sinh.

Phật dạy rằng, trong trời đất luôn tồn tại luật nhân quả. Nếu bản thân không biết tu nhân tích đức thì sẽ bị đày trong cảnh lục đạo luân hồi. Nếu sát sinh, làm việc ác khi chết sẽ bị đày xuống ngã quỷ, địa ngục, cõi súc sinh.

Đức Phật cũng khuyên chúng ta nên thương lấy chúng sinh và lấy quyền bình đẳng làm đầu. Nghĩa là tất cả sinh vật đều có căn mạng”.

Đại đức Thích Thanh Hưng nhấn mạnh, từ những giáo lý mà Phật dạy suy ra việc con người không nên ăn và giết hại động vật để có luân hồi và nhân quả tốt. Tuy nhiên, cũng không nên quá phô trương việc ăn chay của mình. Như vậy là quá lãng phí và không đúng theo tinh thần của nhà Phật.

Ăn chay phải xuất phát từ cái tâm

Nói về phong trào ăn chay vào độ Rằm hay mồng Một của người dân gần đây, Đại đức Thích Thanh Hưng bày tỏ: “Hiện rất nhiều người hướng đến việc ăn chay niệm Phật dù không phải là đệ tử Phật môn.

Lối sống và suy nghĩ ấy của họ rất đáng được hoan nghênh. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng việc ăn chay là xuất phát từ cái tâm tự nguyện, nó sẽ chi phối hành động cho bản thân từng người.

LCó người lấy việc ăn chay như là thú khoe mẽ, trưng ra mâm cỗ hoành tráng, linh đình để ganh đua với người khác là điều không nên. Việc ăn chay niệm Phật nên hướng theo cái tâm trong sáng, đừng quá hình thức, phô trương”.

【#6】Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Mộ Mới Nhất Năm 2021

A. Hướng dẫn sắm lễ và cách bày trí lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ

Không cúng bằng giấy tiền, vàng mã.

Không sát mạng chúng sinh để cúng.

Có thể dùng hoặc không dùng pháp khí: chuông, mõ, khánh.

1. Sắm lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ:

Sắm hai lễ: một lễ cúng thần linh; một lễ cúng vong linh của gia đình và thí thực cô hồn cùng một lễ.

Sắm lễ cúng thần linh: nến, hoa, quả, xôi, nước (số lượng tuỳ duyên).

Sắm cúng thí thực: nến, hoa, quả, xôi, nước, bánh kẹo, khoai, ngô… (số lượng tuỳ duyên).

2. Cách bày trí lễ cúng Rằm tháng 7 tại mộ:

a. Trường hợp gia đình có khu lăng mộ gia tộc

– Một lễ cúng vong linh, thí thực cô hồn chung.

– Lễ cúng thần linh:

+ Trường hợp khu lăng mộ gia tộc có đặt bát hương thờ thần linh và khu nghĩa trang có đền thờ thần linh: bày lễ cúng thần linh tại khu lăng mộ hoặc sắm thêm cả lễ cúng thần linh tại đền thờ thần linh của nghĩa trang.

+ Trường hợp khu lăng mộ gia tộc không đặt bát hương thờ thần linh, nhưng khu nghĩa trang có đền thờ thần linh: tuỳ gia đình đặt lễ cúng thần linh tại khu lăng mộ hoặc đền thờ thần linh.

+ Trường hợp khu lăng mộ gia tộc và khu nghĩa trang đều không có đền/ bát hương thờ thần linh thì đặt lễ cúng thần linh cùng địa điểm đã chọn cúng vong linh, thí thực.

b. Trường hợp gia đình có nhiều mộ đặt rải rác ở nghĩa trang

– Sắm một lễ cúng vong linh, thí thực.

Địa điểm bày lễ cúng: tuỳ gia đình chọn tại một ngôi mộ.

– Lễ cúng thần linh:

Nếu nghĩa trang có đền thờ thần linh, thì đặt lễ cúng tại đền thờ thần linh.

Nếu nghĩa trang không có đền thờ thần linh, thì đặt lễ cúng thần linh cùng địa điểm đã chọn cúng vong linh, thí thực.

Sau đó đến các ngôi mộ khác thắp hương khấn mời vong linh về vị trí ngôi mộ đã chọn. Văn khấn như sau:

“Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Nam mô A Di Đà Phật! Con xin chư Phật gia hộ cho con thực hành hạnh hiếu thỉnh mời vong linh.

Con xin kính thỉnh vong linh(Cụ,… tên…) mất ngày… tháng… năm…, con tên là… ở tại… là (con…) của (cụ…), nhân tiết tháng Bảy – Vu Lan báo hiếu, chư Phật hoan hỷ, chư Tăng kiết hạ đem phúc lành tế độ chúng sinh, gia đình chúng con thiết lễ lòng thành, kính thỉnh vong linh cụ lai đáo về tại phần mộ của (Đọc tên ngôi mộ đã chọn)…, để con cháu chúng con thiết lễ cúng dường vật thực và tác lễ bố thí vật thực cho các vong linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang này, phần phúc đó xin hồi hướng đáp đền ơn đức tiên tổ.

Con xin kính thỉnh vong linh hương hồn (cụ…) hoan hỷ.

Con thành tâm kính thỉnh.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát(3 lần).

B. Nghi thức cúng lễ Rằm tháng 7 tại mộ

(Quỳ hoặc đứng dâng hương) NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ Đề kiên cố

Chí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TẠI MỘ

LỄ TÁN PHẬT

(Pháp khí: khánh)

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

TỤNG KINH (Khai chuông mõ) Bài kinh: Chuyện Ngạ Quỷ Serinì (Serinìpeta)

Bậc Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana).

Tương truyền ở quốc độ Câu-lâu (Kuru) tại thành phố Hat-thi-ni-pu-ra có một gái giang hồ tên là Se-ri-nì. Khi dân trong thành chào đón chư Tăng đến thuyết pháp, họ thúc giục nàng:

– Nàng hãy đến cúng dường chư Tăng để tạ ân.

Nàng từ chối đáp:

– Sao tôi lại phải cúng dường lễ vật cho các Sa-môn trọc đầu này chứ? Sao tôi lại phải từ bỏ một thứ gì đó vì con người vô dụng ấy?

Khi từ trần, nàng tái sanh làm một nữ ngạ quỷ ở sau hào lũy của một tường thành nơi biên địa. Thế rồi một cư sĩ tại gia từ thành Hat-thi-ni-pu-ra đến vùng thành lũy này để buôn bán, vào lúc rạng đông đi ngang hào lũy để điều hành công việc, trông thấy nữ ngạ quỷ liền hỏi, qua vần kệ:

Trần truồng và xấu xí hình dung,

Hốc hác và thân thể nổi gân,

Người ốm yếu, xương sườn lộ rõ,

Ngươi là ai hiện đến đây chăng?

Nữ ngạ quỷ đáp:

Tôn giả, con là ngạ quỷ nương,

Thần dân khốn khổ của Diêm Vương,

Vì con đã phạm hành vi ác,

Con đến cõi ma đói ẩn thân.

Vị cư sĩ ngâm kệ hỏi:

Ngày xưa đã phạm ác hành gì,

Do khẩu, ý, thân đã thực thi?

Vì hạnh nghiệp nào ngươi đã tạo,

Từ đây tới cảnh giới âm ty?

Nữ ngạ quỷ đáp lại vần kệ:

Con đã đi quanh bến tắm công,

Lang thang suốt cả nửa tuần trăng,

Mặc dù bố thí là công đức,

Con chẳng cho mình chỗ trú thân.

Khi con khát nước, đến dòng sông,

Sông nước trở thành bãi trống không,

Những lúc nắng, con ngồi bóng mát,

Tàng cây lại hóa nóng bừng bừng.

Cơn gió như thiêu đốt, lửa hồng,

Thổi ào lên khắp cả thân con,

Nhưng con xứng đáng nhiều đau khổ,

Hơn thế này, Tôn giả đoái thương.

Xin Tôn giả đến Hat-thi-ni,

Và kể chuyện ngay với mẹ già:

“Ta đã thấy con bà thuở trước,

Thần dân khốn khổ cõi Diêm-la,

Vì nàng đã phạm hành vi ác,

Từ cõi đời đi đến cõi ma”.

Giờ đây con có món tư trang,

Ðể dành lên đến bốn trăm ngàn,

Con không hề nói cho ai biết,

Con đã giấu ngay dưới tọa sàng.

Xin mẹ con dâng lễ cúng dường,

Phước phần hồi hướng đến tên con,

Chúc bà được sống đời trường thọ,

Khi mẹ con dâng lễ cúng dường,

Hồi hướng về con phần phước đức,

Thỏa nguyền, con hạnh phúc hân hoan.

Trong lúc nữ ngạ quỷ kể chuyện này, vị ấy chú ý lắng nghe lời nói, và về sau, khi đã làm xong công việc, vị ấy đến kể chuyện kia cho bà mẹ nó.

Người ấy thuận lòng, vội nói ra:

“Ðược rồi!” và đến Hat-thi-ni,

Nói: “Ta đã thấy con bà đó,

Khốn khổ, thần dân cõi Dạ-ma,

Vì đã tạo nên điều ác nghiệp,

Từ đời này đến cõi tà ma”.

Dịp kia, nàng đã bảo cùng ta:

“Xin kể chuyện ngay với mẹ già,

Ta đã thấy con bà thuở trước,

Thần dân khốn khổ cõi Diêm-la,

Vì nàng đã phạm hành vi ác,

Từ cõi đời đi đến cõi ma”.

Giờ đây nàng có món tư trang,

Ðể dành lên đến bốn trăm ngàn,

Nàng không hề nói cho ai biết,

Nàng đã giấu ngay dưới tọa sàng.

Xin mẹ nàng dâng lễ cúng dường,

Phước phần hồi hướng đến cho nàng,

Chúc bà được sống đời trường thọ,

Khi mẹ nàng dâng lễ cúng dường,

Hồi hướng về nàng phần phước đức,

Thỏa nguyền, nàng hạnh phúc hân hoan.

Do vậy, bà dâng lễ cúng dường

Phước phần hồi hướng đến tên nàng,

Tức thì nữ quỷ liền an lạc,

Hạnh phúc, dung nhan đẹp lạ thường!

Khi mẹ nàng nghe chuyện này, bà liền cúng dường Tăng chúng như nàng ước nguyện và hồi hướng công đức về nàng.(3 tiếng chuông)

(Trích: Kinh Tạng Nam Truyền, Tiểu Bộ Kinh 3, Ngạ Quỷ Sự, Tiểu Phẩm, Chuyện Ngạ Quỷ Serinì, trang 373 – 376)

(Chủ sám khai thị cho vong linh)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, con xin được nương oai lực của Tam Bảo, nói cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong bài kinh liên hệ với việc làm hôm nay của con.

Hỡi các vong linh(ngạ quỷ, cô hồn), bài kinh trên nói về một cô gái, do lúc sống mang thân người không biết làm công đức, vì vậy nên khi chết do không có phước, khiến bị đọa làm ngạ quỷ, chịu đời sống vô cùng khổ sở. Sau đó ngạ quỷ do nhân duyên nhờ người cư sĩ nói chuyện với bà mẹ, để bà mẹ cúng dường Tam Bảo hồi hướng phước cho, nên đã thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ đó. Hôm nay nhân mùa Vu Lan báo hiếu, xá tội vong nhân, con như pháp tuỳ duyên xin cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ trì chư Tăng tại chùa… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với số tịnh tài là… và xin hồi hướng phúc lành tạo ra đó, đến cho các vong linh, nguyện phúc lành này sẽ giúp cho các vong linh tiêu trừ phần nào nghiệp khổ, để thọ thực được phần thức ăn hiến cúng của gia đình chúng con và phát sinh được nhân duyên, được quy y Tam Bảo tu theo Phật Pháp sớm thoát cảnh khổ.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần linh tại nơi địa cuộc nghĩa trang này.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, giờ này con xin tác lễ cúng dường vật thực.

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho các vong linh gia tiên họ (…) và các vong linh (tên):… cùng các vong linh nơi địa cuộc nghĩa trang này.

(Đọc chú Biến thực, Biến thủy)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thỉnh các chúng đã lãnh thọ phước báu, vật thực tại đàn lễ này, cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề:

Phát tâm Bồ Đề

Hộ trì Tam Bảo

Chuyển tải Phật pháp

Rộng khắp thế gian(phần in đậm đọc 3 lần)

Nguyện chư vị tinh tấn Bồ Đề, cầu Vô Thượng Đạo.(1 vái)

PHỤC NGUYỆN

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các vong hồn tiên tổ, thân quyến quá vãng và các chúng vong linh(ngạ quỷ, cô hồn), đã thọ nhận lễ hiến cúng của chúng con, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành trong đàn lễ hiến cúng này, đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)… và toàn thể gia đình, cùng nhau tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng. (1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/

Lưu ý: Nếu như bài nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

Số tài khoản: 0141005656888.

Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư Thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn

Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

– Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810

– Nhắn tin vào Facebook:

Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan

– Đăng lên nhóm facebook:

Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

– Email: [email protected]

【#7】Bài Cúng Rằm Tháng 7 Tại Nhà Hoặc Nhà Thờ Tổ Mới Nhất Năm 2021

A. Hướng dẫn sắm lễ cúng Rằm tháng 7 tại nhà

Không cúng bằng giấy tiền, vàng mã.

Không sát mạng chúng sinh để cúng.

Hoa, quả không kiêng chủng loại và số lượng.

Sắm lễ:

– Địa điểm bày lễ: Tại ban thờ

+ Cúng Phật: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng (nếu gia đình chưa có ban thờ Phật, thì khi bạch cúng lễ, sẽ hướng tâm tới Phật để cúng, mà không sắm lễ).

+ Cúng chư Thiên, Thần linh: Hương, hoa, trà, quả, thực: xôi chè hoặc bát cơm trắng.

+ Cúng vong linh gia tiên: Hương, hoa, trà, quả, thực: mâm cơm chay, nếu có xôi chè thì bày cả xôi chè để cúng.

B. Nghi thức cúng lễ Rằm tháng 7 tại nhà

NGUYỆN HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính

Gửi theo đám mây hương

Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo

Thề trọn đời giữ đạo

Theo tự tính làm lành

Cùng pháp giới chúng sinh

Cầu Phật từ gia hộ

Tâm Bồ Đề kiên cố

Chí tu đạo vững bền

Xa biển khổ nguồn mê

Chóng quay về bờ giác

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát!

VĂN KHẤN RẰM THÁNG 7 TẠI NHÀ

LỄ TÁN PHẬT

Đại từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới.(1 lễ)

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 lần)

Bài kinh: Vu Lan Bồn

Ta từng nghe lời tạc như vầy:

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,

Xá Vệ thành Kỳ thụ viên trung,

Mục Liên mới được Lục thông,

Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,

Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,

Làm con hiếu hạnh vi tiên,

Bèn dùng tuệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỷ,

Không uống ăn tiều tuỵ hình hài,

Mục Liên thấy vậy bi ai!

Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,

Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu,

Thấy cơm, mẹ rất lo âu,

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn sẻn tiền căn chưa dứt,

Sợ chúng ma cướp giựt của bà,

Cơm đưa chưa đến miệng đà,

Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm,

Mục Kiền Liên bi cảm xót thương,

Mau mau về tới giảng đường,

Bạch cùng Sư phụ tìm phương giải nàn.

Phật mới bảo rõ ràng căn cội:

Rằng mẹ Ông gốc tội rất sâu,

Dầu Ông thần lực nhiệm mầu,

Một mình không thể ai cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của Ông dầu lớn,

Tiếng vang đồn thấu đến cửu Thiên,

Cùng là các bậc Thần kỳ,

Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên vương.

Cộng ba cõi sáu phương tụ tập,

Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi,

Muốn cho cứu được mạng người,

Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu tế Ta toan giảng nói,

Cho mọi người thoát khỏi ách nàn.

Bèn kêu Mục thị đến gần,

Truyền cho diệu Pháp ân cần thiết thi.

Rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ,

Mười phương Tăng đều dự lễ này,

Phải toan sắm sửa chớ chầy,

Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót,

Cùng thau, bồn, đèn, đuốc, nhang, dầu,

Món ăn tinh sạch báu mầu,

Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

Chư Ðại đức mười phương thọ thực,

Trong bảy đời sẽ được siêu thăng,

Lại thêm cha mẹ hiện tiền,

Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

Vì ngày ấy Thánh Tăng đầy đủ,

Dầu ở đâu cũng tụ hội về,

Như người thiền định sơn khê,

Tránh điều phiền não chăm về Thiền-na.

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,

Công tu hành nguyện thỏa vô sanh.

Hoặc người thọ hạ kinh hành,

Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng.

Hoặc người được Lục thông tấn phát,

Và những hàng Duyên-giác, Thanh-văn,

Hoặc chư Bồ-tát mười phương,

Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh,

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh,

Ðạo đức dầy chánh định chơn tâm.

Tất cả các bậc Thánh, phàm,

Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm Lục hòa.

Người nào có sắm ra vật thực,

Ðặng cúng dường Tự tứ Tăng thời,

Hiện tiền phụ mẫu của người,

Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi,

Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên,

Như còn cha mẹ hiện tiền,

Nhờ đó cũng được bách niên thọ trường;

Như cha mẹ bảy đời quá vãng,

Sẽ hóa sinh về cõi Thiên cung.

Người thời tuấn tú hình dung,

Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân,

Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng,

Phải tuân theo thể thức sau này:

Trước khi thọ thực đàn chay,

Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ,

Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên,

Cho xong định ý hành thiền,

Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.

Khi thọ dụng, nên an vật thực,

Trước Phật đài hoặc tự tháp trung.

Chư Tăng chú nguyện viên dung,

Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa.

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,

Mục Liên cùng Bồ-tát chư Tăng,

Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng,

Mục Liên cũng hết khóc than rầu buồn.

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy,

Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan,

Mục Liên bạch với Phật rằng:

Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn.

Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo,

Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra.

Như sau đệ tử xuất gia,

Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh.

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế,

Hoặc bảy đời có thể được không?

Phật rằng: Lời hỏi rất thông,

Ta vừa muốn nói, con thời hỏi theo.

Thiện nam tử, Tỳ-kheo nam nữ,

Cùng Quốc vương, Thái tử, Ðại thần,

Tam công, Tể tướng, Bá quan

Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần.

Như chí muốn đền ơn cha mẹ,

Hiện tại cùng thất thế tình thâm.

Ðến Rằm tháng Bảy mỗi năm,

Sau khi kiết hạ chư Tăng tựu về,

Chính ngày ấy Phật Ðà hoan hỷ,

Phải sắm sanh bá vị cơm canh,

Ðựng trong bình bát tinh anh,

Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường.

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ,

Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,

Cùng cầu thất thế đồng thì,

Lìa nơi ngạ quỷ sinh về nhơn thiên.

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp,

Lại xa lìa nạn khổ cực thân.

Môn sanh Phật tử ân cần,

Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên.

Thường cầu nguyện thung huyên an hảo,

Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sinh,

Ngày Rằm tháng Bảy mỗi năm,

Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt,

Ngỏ cúng dường chư Phật, chư Tăng.

Ấy là báo đáp thù ân,

Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu,

Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ,

Mới phải là Thích tử Thiền môn.

Vừa nghe dứt Pháp Lan Bồn,

Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan.

Mục Liên với bốn ban Phật tử,

Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

Trước là trả nghĩa sanh thành,

Sau là cứu vớt chúng sanh muôn loài.

NAM MÔ ÐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT. (3 lần, ba tiếng chuông)

(Chủ sám khai thị cho vong linh)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, con xin được nương oai lực của Tam Bảo, nói cho các vong linh về ý nghĩa lời Đức Phật dạy trong bài kinh liên hệ với việc làm hôm nay của con.

Kính thưa vong linh các cụ gia tiên tiền tổ, cùng các vong linh hiện tiền nơi pháp hội đàn tràng, nội dung bài kinh Vu Lan Bồn mà con đã đọc ở trên, nói về mẹ của Ngài Mục Kiền Liên bậc A La Hán đệ nhất thần thông, là bà Thanh Đề, do lúc còn sống ở trên đời, bà Thanh Đề đã phỉ báng Tam Bảo, sát hại sinh linh cúng tế quỷ thần, tà kiến sân hận, không biết tu tâm, không biết tạo công đức, vì vậy đến khi chết do hành nghiệp ác đã tạo, do không có phước nên đã bị đọa làm quỷ đói, chịu đời sống vô cùng khổ sở. Khi Ngài Mục Kiền Liên tu chứng đạo, Ngài quán sát thấy biết mẹ đang chịu khổ, nên Ngài liền đi khất thực được bát cơm dâng cúng cho bà, nhưng vì bà ác nghiệp quá nặng nề, nên khi dâng bát cơm lên miệng, thì bát cơm đó đã hóa thành lửa, khiến bà không nuốt được nên bà càng khổ thêm. Ngài Mục Kiền Liên thấy mẹ bị như vậy, vô cùng đau sót, Ngài về Bạch Phật và đã được Đức Phật chỉ dạy rằng: “Dù Ngài Mục Liên có thần thông, có oai lực, nhưng một mình cũng không cứu được mẹ, hoặc là dù có nhờ tất cả các vị thầy ngoại đạo – tức là không theo Pháp giải thoát của Phật, hoặc tất cả các vị vua trời tập trung vào cùng cầu nguyện thì cũng không cứu nổi bà Thanh Đề, cũng như không cứu nổi một vong linh ngạ quỷ được siêu thoát. Mà muốn cứu cho một vong linh hay cả dòng họ gia tiên siêu thoát thì phải nhờ thần lực của thập phương Tăng, thông qua lễ cúng dường trai Tăng, lễ cúng dường tứ sự: Y, áo vật dụng che thân; thuốc men chữa bệnh; vật thực, nước uống; chỗ ở giường sàng, ngọa cụ cho tập thể chư Tăng tu tập trai giới phạm hạnh, sau khi chứng minh thọ dụng sự cúng dường của gia chủ, chư Tăng hồi hướng phúc đến cho vong linh thân bằng quyến thuộc của thí chủ, thì vong linh được thoát kiếp khổ sinh về cảnh giới an lành: trời, người”. Học theo lời Đức Phật dạy, noi theo gương hiếu của Ngài Mục Kiền Liên, hôm nay nhân mùa Vu Lan báo hiếu, xá tội vong nhân, con không thiết lễ cúng dường trai Tăng được, con xin tuỳ duyên như pháp xin cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ trì chư Tăng tại chùa…(nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với số tịnh tài là… và xin hồi hướng phúc lành tạo ra đó, đến cho các vong linh, nguyện phúc lành này sẽ giúp cho các vong linh tiêu trừ phần nào nghiệp khổ, để hiện tại thọ thực được phần thức ăn hiến cúng của gia đình chúng con và phát sinh được nhân duyên, được quy y Tam Bảo, tu theo Phật pháp sớm thoát cảnh khổ.

Chúng con cúng dường Tam Bảo với số tiền là… để hồi hướng phúc đến cho chư Thiên, chư Thần linh tại nơi đất của gia đình.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin tác lễ cúng dường vật thực.

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương chư Phật chứng minh.

Trung: Chúng con xin cúng dâng lên chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng chứng minh.

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho chư Thiên, chư Thần Linh, Thổ Địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Tam Bảo, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho các vong linh gia tiên họ (…), các vong linh thai nhi và các vong linh (tên):… cùng các vong linh thuộc các nơi đất thuộc sở hữu của gia đình chúng con.

(Đọc chú Biến thực, Biến thủy)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha nga đá phả rô chỉ để ám tam bạt ra tam bạt ra hồng. (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha. (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. (7 lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thỉnh chư vị chư Thiên, chư Thần, gia tiên tiền tổ, các chúng hiện diện nơi pháp hội, đã lãnh thọ phước báu, vật thực tại đàn lễ này, cùng chúng con phát tâm Bồ Đề, thực hành công hạnh Bồ Đề:

Phát tâm Bồ Đề

Hộ trì Tam Bảo

Chuyển tải Phật pháp

Rộng khắp thế gian(phần in đậm đọc 3 lần)

Nguyện chư vị tinh tấn Bồ Đề, cầu Vô Thượng Đạo.(1 vái)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các vong hồn tiên tổ, thân quyến quá vãng và các chúng vong linh (ngạ quỷ, cô hồn), đã thọ nhận lễ hiến cúng của chúng con, được kết duyên pháp lữ với chúng con, đời đời kiếp kiếp trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật. Chúng con cũng xin hồi hướng phúc lành, trong đàn lễ hiến cúng này, đến cho gia đình chúng con (nguyện gì đọc nấy)… và toàn thể gia đình, cùng nhau tinh tấn tu hành theo chính Pháp của Phật, cho tới ngày liễu thoát luân hồi sinh tử.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

TAM TỰ QUY

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sinh, hiểu thấu đạo lớn, phát tâm Vô Thượng.(1 lễ)

Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lễ)

Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sinh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại.(1 lễ)

(Nếu sắp cúng thí thực phóng sinh, thì chắp tay khấn bạch, để đi ra ngoài cúng)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Giờ này con xin ra ngoài cúng lễ thí thực, phóng sinh. Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!(3 vái)

Mời quý Phật tử xem (ấn vào tên bài): Bài cúng cô hồn tháng 7 tại nhà mới nhất năm 2021

Nếu các Phật tử ở xa, muốn cúng dường về chùa Ba Vàng, nhưng không có điều kiện để về chùa, thì quý Phật tử khi cúng lễ xong, gom cất phần tịnh tài (tiền), để gửi ngay hoặc sau khoảng mấy tháng thì gửi.

Chùa Ba Vàng và Thầy Thích Trúc Thái Minh không dùng bất kỳ một tài khoản ngân hàng nào khác. Nếu quý Phật tử muốn cúng dường, công đức về chùa Ba Vàng thì chỉ chuyển khoản vào một tài khoản duy nhất sau đây.

Quý Phật tử kiểm tra thông tin cung cấp tài khoản tại trang chùa Ba Vàng ở đường link sau:

chuabavang.com/thong-bao-so-tai-khoan-cua-chua-ba-vang/

Lưu ý: Nếu như bài nào có in số tài khoản mà không in đường link, mong quý Phật tử xem xét và kiểm tra lại.

TÀI KHOẢN CHÙA BA VÀNG

Số tài khoản: 0141005656888.

Tên tài khoản: Chùa Ba Vàng.

Ngân hàng: Vietcombank Quảng Ninh.

Mã SWIFT (mã số khi chuyển khoản quốc tế): BFTV VNVX014.

Khi gửi xong thì nhắn tin vào số điện thoại hoặc nhắn tin qua zalo để thầy biết: 0981392858 (Sư thầy Thích Trúc Bảo Việt).

Nội dung tin nhắn

Nam mô A Di Đà Phật, con kính bạch Thầy! Tên con là… ở tại… Hôm nay là ngày… /…/… con vừa gửi vào tài khoản của nhà chùa số tiền là… để hồi hướng cho các vong linh… Con xin gửi danh sách để Sư Thầy thỉnh vong linh ạ. Con cũng xin Sư Thầy chứng minh và hồi hướng cho cả gia đình con luôn được sự gia hộ của chư Phật, hiện tại được… Con xin thành kính tri ân Thầy ạ! Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!

LIÊN HỆ

Nếu có bất cứ vấn đề gì thắc mắc, kính mời quý đạo hữu liên hệ với:

Phật tử: Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

– Ban Liên Lạc của CLB Cúc Vàng – Tập Tu Lục Hòa: 0984243810

– Nhắn tin vào Facebook:

Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/cophamthiyentamchieuhoanquan

– Đăng lên nhóm Facebook:

Tâm Sự Cùng Cô Phạm Thị Yến (Tâm Chiếu Hoàn Quán):

Facebook.com/groups/PhamThiYenTCHQ

– Email: [email protected]

【#8】Cúng Rằm Tháng Chạp Năm Nay Giờ Nào Tốt Nhất, Chuẩn Bị Đồ Lễ Cần Lưu Ý Điều Gì?

Ngày rằm tháng Chạp là một trong 3 ngày lễ quan trọng nhất trong dịp Tết Nguyên đán. Chính vì vậy trong ngày này chúng ta cần đặc biệt lưu tâm để không phạm phải những điều không nên.

Ngày rằm tháng Chạp là một trong 3 ngày lễ quan trọng nhất trong dịp Tết Nguyên đán. Chính vì vậy trong ngày này chúng ta cần đặc biệt lưu tâm để không phạm phải những điều không nên. 1. Cúng rằm tháng Chạp 2021 vào ngày nào?

Theo phong tục dân gian, ngày rằm tháng Chạp (rằm tháng 12 âm lịch) là 1 trong 3 ngày lễ quan trọng nhất dịp cuối năm của người Việt. Vào ngày này, gia đình nào cũng thu xếp công việc để sắm sửa mâm lễ để dâng cúng tổ tiên.

Năm nay, rằm tháng Chạp rơi vào ngày thứ 5 (9/1/2020), do rơi vào ngày trong tuần nên các gia đình có thể sắp xếp cúng trước từ tối 14 âm lịch (tức thứ Tư ngày 8/1/2020). Giờ cúng rằm tháng Chạp không quá quan trọng, miễn là cúng trong vòng 2 ngày 14 hoặc 15 âm lịch. Tuy nhiên, thời điểm cúng rằm tốt nhất là ban ngày hoặc chiều tối, tránh cúng quá muộn.

2. Cúng rằm tháng Chạp cần chuẩn bị đồ lễ gì?

” Đồ lễ để cúng rằm tháng Chạp sẽ tùy thuộc vào từng vùng miền, địa phương khác nhau. Có những gia đình chuẩn bị lễ mặn nhưng cũng có nhà lựa chọn lễ chay”, chuyên gia phong thủy Nguyễn Phương Nam (hiện đang công tác tại một văn phòng tư vấn phong thủy tại Hà Nội) cho biết.

“Thông thường, một mâm cỗ chay cúng rằm tháng Chạp sẽ có những lễ vật sau: hương, hoa tươi, trái cây, trầu cau, nước sạch, đèn nến, vàng mã, rượu, thuốc lá. Nhà nào cầu kỳ thì làm một mâm cỗ gồm những món chay. Nếu làm cỗ mặn cũng tùy vào điều kiện của từng gia đình. Một mâm cỗ mặn được xem là đầy đủ khi có gà luộc, xôi đỗ, bánh chưng, giò chả, nem rán, thịt đông, canh miến, rau củ luộc, rượu…”, chuyên gia Phương Nam hướng dẫn.

Một mâm cỗ chay có thể cầu kỳ hoặc đơn giản tùy ý gia chủ Chuyên gia phong thủy Nguyễn Phương Nam hướng dẫn chuẩn bị đồ cúng rằm tháng Chạp

Lưu ý: Gà cúng trên mâm cỗ ngày rằm tháng Chạp phải là gà trống. Theo quan niệm của người Việt, gà trống chính là biểu tượng của đức tính Trí, Dũng, Nhân.

Bên cạnh đó, người làm lễ cúng rằm tháng Chạp phải tắm rửa sạch sẽ trước khi hành lễ, có đức tin và lòng thành.

3. Dâng sớ cầu an tại chùa

Đây là một việc không bắt buộc, tuy nhiên một số gia đình vẫn thường dâng lễ, sớ cầu an trên chùa bên cạnh việc cúng lễ tại nhà vào ngày rằm tháng Chạp. Thông thường, sớ cầu an gồm có 7 lá sớ.

Việc dâng sớ cầu an trên chùa được thực hiện nhằm cầu bình an cho người thân trong gia đình. Việc vãn cảnh chùa cũng khiến tâm gia chủ thanh tịnh.

4. Một số điều kiêng khem

Trong ngày rằm tháng Chạp, các bạn cũng nên tham khảo một số điều nên kiêng khem.

– Không vay mượn tiền nong.

– Không làm việc hại người.

– Không gây gổ, cãi cọ, đánh nhau.

– Không làm vỡ gương, chén bát…

Văn khấn Rằm tháng Chạp tại gia để tống Hợi nghênh Tý

VĂN KHẤN THỔ CÔNG VÀ CÁC VỊ THẦN

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười Phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Thần Quân Con kính lạy ngài Bản gia thổ địa Long Mạch Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần Con kính lạy ngài tiền hậu địa chủ tài thần Con kính lạy các Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Tín chủ (chúng) con là: ……………………………

Ngụ tại: ………………………………

Hôm nay là ngày … tháng … năm … tín chủ con thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kim ngân trà quả đốt nén hương thơm dâng lên trước án.

Chúng con thành tâm kính mời: Ngài Kim Niên đương cai Thái Tuế chí đức Tôn thần, ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, ngài Bản gia Thổ Địa. Long Mạch Tôn thần, các ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc đức chính thần, các vị Tôn thần cai quản trong khu vực này.

Cúi xin các Ngài nghe thấu lời mời thương xót thương tín chủ giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ chúng con toàn gia an lạc công việc hanh thông. Người người được bình an, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

VĂN KHẤN GIA TIÊN NGÀY RẰM THÁNG CHẠP

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn Thần

Con kính lạy Tổ tiên, Hiển khảo, Hiển Tỷ, chư vị Hương linh (nếu bố, mẹ còn sống thì thay bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ)

Tín chủ (chúng) con là: ……………… Ngụ tại: ………………………………..

Hôm nay là ngày ….. gặp tiết ….. (ngày rằm, mồng một), tín chủ con nhờ ơn đức trời đất, chư vị Tôn thần, cù lao Tiên Tổ, thành tâm sắm lễ, hương, hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án. Chúng con kính mời: Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ ………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, phù hộ cho gia chúng con luôn luôn mạnh khỏe, mọi sự bình an, vạn sự tốt lành, làm ăn phát tài, gia đình hòa thuận.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật !

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lạy)

*Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo

Theo Khám phá

Gửi bài viết

【#9】Bài Văn Khấn Cúng Tết Trung Thu (Rằm Tháng 8 Âm Lịch) Chuẩn Nhất

Tục xưa truyền lại rằng: Vào một đêm rằm tháng 8 trăng sáng như gương, bầu trời bao la huyền ảo, nhà Vua nhìn lên trời và nảy ra ý muốn lên thăm Cung Trăng. Pháp sư đi theo nhà Vua liền ném chiếc gậy đang chống lên không trung, chiếc gậy liền biến .thành một chiếc cầu bằng bạc đưa nhà Vua cùng pháp sư lên Cung Trăng.

Vào đến “Phủ thanh hư Quảng Hàn’ nhà Vua và pháp sư được tiên nữ Hằng Nga đón tiếp nồng hậu. Hằng Nga sai tiên nữ mang bánh Tiên đến mời hai vị và lệnh cho các tiên nữ múa hát để nhà Vua xem. Sau khi về trần gian, đế tưởng nhớ ngày này, hàng năm vào Rằm tháng Tám, nhà Vua sai làm “Bánh Tiên”- bánh có hình tròn như mặt Trăng nên còn gọi là “Bánh Trăng’ và khi trăng Rằm toả sáng nhà Vua cùng quần thần ngắm trăng ăn bánh. Từ đó hình thành tục ăn Tết Trung Thu.

Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm Rằm tháng 8, tết này còn gọi là “Tết Trông Trăng’. Theo phong tục dân gian ngày Tết Trung Thu nhà nhà đều treo đèn kết loa rước đèn, ngắm trăng và làm “Bánh Trăng” – ngày nay là bánh nướng, bánh dẻo để cúng tổ tiên, có thể gọi là Tết Trung Thu trông trăng bái bồ tát.

2. Sắm lễ cúng Rằm Trung Thu

Mâm cỗ cúng Trung thu chuẩn truyền thông nối dài văn hóa tình thân. Mâm lễ cúng gia tiên ngày Tết Trung Thu ngoài những món truyền thống thì bao giờ cũng phải có: bánh nướng, bánh dẻo, cốm, chuối, na, hồng, bưởi,… và tất nhiên phảị có hương, hoa, đèn, nến. Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng.

3. Văn khấn cúng Rằm Trung Thu đúng chuẩn

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính tay Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại.

Tín chủ (chúng) con là:………..

Ngụ tại:………………………..

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

【#10】Bài Văn Cúng Khấn Ngày Tết Trung Thu (Ngày Rằm Tháng 8)

Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm Rằm tháng 8, tết này còn gọi là “Tết Trông Trăng’.

Ý nghĩa:

Tục xưa truyền lại rằng: Vào một đêm rằm tháng 8 trăng sáng như gương, bầu trời bao la huyền ảo, nhà Vua nhìn lên trời và nảy ra ý muốn lên thăm Cung Trăng. Pháp sư đi theo nhà Vua liền ném chiếc gậy đang chống lên không trung, chiếc gậy liền biến .thành một chiếc cầu bằng bạc đưa nhà Vua cùng pháp sư lên Cung Trăng. Vào đến “Phủ thanh hư Quảng Hàn’ nhà Vua và pháp sư được tiên nữ Hằng Nga đón tiếp nồng hậu. Hằng Nga sai tiên nữ mang bánh Tiên đến mời hai vị và lệnh cho các tiên nữ múa hát để nhà Vua xem. Sau khi về trần gian, đế tưởng nhớ ngày này, hàng năm vào Rằm tháng Tám, nhà Vua sai làm “Bánh Tiên”- bánh có hình tròn như mặt Trăng nên còn gọi là “Bánh Trăng’ và khi trăng Rằm toả sáng nhà Vua cùng quần thần ngắm trăng ăn bánh. Từ đó hình thành tục ăn Tết Trung Thu.

Tết Trung Thu là tết được cử hành vào đêm Rằm tháng 8, tết này còn gọi là “Tết Trông Trăng’. Theo phong tục dân gian ngày Tết Trung Thu nhà nhà đều treo đèn kết loa rước đèn, ngắm trăng và làm “Bánh Trăng” – ngày nay là bánh nướng, bánh dẻo để cúng tổ tiên.

Sắm lễ:

Mâm lễ cúng gia tiên ngày Tết Trung Thu ngoài những món truyền thống thì bao giờ cũng phải có: bánh nướng, bánh dẻo, cốm, chuối, na, hồng, bưởi,… và tất nhiên phảị có hương, hoa, đèn, nến. Nhân dịp Tết Trung Thu mọi người đều gửi biếu ông, bà, cha, mẹ, người thân, người mà mình mang ơn bánh Trung Thu, cốm, chuối, hồng… để tỏ lòng biết ơn quí trọng.

Văn cúng tổ tiên (Ngày Tết Trung Thu)

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng thiên hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành hoàng, ngài Bản xứ Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân cùng chư vị Tôn thần.

– Con kính tay Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Thúc Bá, Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội họ nội họ ngoại

Tín chủ (chúng) con là:……………………..

Ngụ tại:………………………..

Hôm nay là ngày Rằm tháng Tám gặp tiết Trung Thu tín chủ chúng con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành hoàng Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, ngài Bản gia Táo quân, Ngũ phương, Long Mạch, Tài Thần. Cúi xin các ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị Hương linh gia tiên nội ngoại họ………………, cúi xin thương xót con cháu linh thiêng hiện về, chứng giám tâm thành, thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ ngụ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng. Xin các ngài độ cho chúng con thân cung khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng vinh quang thịnh vượng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Cùng Danh Mục

Liên Quan Khác