Top 5 # Xem Nhiều Nhất Xem Bay Mam Ngu Qua Ngay Tet Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Herodota.com

Ý Nghĩa Về Mâm Ngũ Quả Trong Ngày Tết Âm Lịch Y Nghia Ve Mam Ngu Qua Ngay Tet Doc

Ý nghĩa mâm ngũ quả ngày TếtPNO – Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có năm loại trái cây khác nhau, thường được trưng bày trên bàn thờ trong ngày Tết Nguyên đán của người Việt. Các loại trái cây của mâm ngũ quả thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp.

Ngày xưa, mâm ngũ quả thường có các loại trái cây: mận, hạnh, đào, táo và lý (hay điều). Nhưng do điều kiện của các khu vực sinh sống của người Việt có khác biệt, người ta không thể lúc nào cũng kiếm được đủ năm loại trái cây này, vì thế mà cách trình bày mâm ngũ quả cũng có sự khác biệt giữa các miền. Thông thường, các loại trái cây sau thường dùng để bày mâm ngũ quả: lê, lựu, đào, táo, hồng, thanh long, bưởi, dưa hấu, chuối, trứng gà (lê ki ma), dừa, sung, đu đủ, xoài, mãng cầu…Ngũ (năm): Trong Đại từ điển, “ngũ” có đến mười hai nghĩa và một ngàn một trăm bốn mươi tám từ kép ghép với nó. Số 5 là biểu hiện chung của sự sống và tượng trưng một tập thành được coi là đầy đủ.Quả: là biểu tượng cho sự sung túc qua cấu tạo của nó: bên trong chứa hạt tượng trưng cho sao, quả bao lấy là vũ trụ, ý nghĩa của quả là sự sinh sôi trường tồn, tái sinh bất tận của sự sống. Mỗi loại quả có ý nghĩa riêng qua hình dáng/cầu tạo/hương vị, màu sắc và cách đọc tên:Hình dáng, cấu tạo, hương vịThường là cách hình dáng/cấu tạo có tính chất gợi tả điều tốt lành. Ví dụ: lựu có nhiều hạt, tượng trưng cho con cháu đầy đàn, bưởi và dưa hấu căng tròn, mát lạnh, hứa hẹn sự ngọt ngào, may mắn trong cuộc sống…Màu sắc

Các loại quả thường có sắc màu theo quan niệm là có tính may mắn: đỏ (may mắn phú quý), vàng (sung túc)…Cách đọc tênCách đọc tên thường được hiểu theo kiểu gần âm: ví dụ: “dừa” gần âm với “vừa”; đu đủ là “đủ”, xoài gần âm với “xài”, mãng cầu là “cầu”, sung là “sung”. Một mâm quả có: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung thường được người Việt đọc thành “cầu vừa đủ xài sung”. Cũng vì cách đọc này mà ngày nay nhiều gia đình người Việt gần như loại hẳn quả chuối khỏi mâm ngũ quả ngày Tết vì âm “chuối: dẫn đến liên tưởng “chúi mũi chúi lái”, làm ăn thất bại…Bày biện mâm ngũ quả ngày Tết

Thông thường mâm ngủ quả được bày trên bàn thờ tổ tiên hoặc trên bàn tiếp khách. Được bày dưới cùng là một nải chuối to còn xanh, đều trái, sau đó đến các loại trái cây khác. Bưởi chín vàng, tươi nổi bật trên bệ chuối màu xanh. Tiếp đến là lê, táo, hồng xen kẽ nhau, tạo thành bức tranh màu sắc trong những ngày xuân.Từ Linh Hương (tổng hợp)

Người Việt Nam luôn luôn trọng lễ nghĩa. Bất kỳ lễ lạt nào đều có những nghi thức đề cáo tổ tông. Ngày Tết cũng vậy, nhà nào cũng có tục lệ bày soạn mâm quả để dâng cúng tổ tiên ông bà. Ngũ là năm (5) vì vũ trụ được tạo bởi Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Mâm ngũ quả thường gồm năm loại quả mà tên gọi có ý cầu mong đạt được một điều gì đó.

Đi xa hơn về căn nguyên thì “ngũ”, tức con số 5 là con số chỉ trung tâm. Người ta tìm thấy nó tọa ở ngăn giữa Lạc thư. Tự dạng chữ “ngũ” nguyên thể có hình chữ thập của bốn nguyên tố, cộng với điểm trung tâm. Sau này, hai vạch song song được chêm vào đấy, tức trời và đất mà giữa chúng, âm và dương tạo nên năm nguyên tố tương tác sinh khắc của vạn vật, gọi là ngũ hành của vũ trụ. Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc, thường cho rằng các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5.Trong Đại từ điển, “ngũ” có đến mười hai nghĩa và một ngàn một trăm bốn mươi tám từ kép ghép với nó. Phổ quát vì chúng ta có ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương), hay ngũ sắc, rồi ngũ vị, ngũ âm, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc,… Như vậy, số 5 là biểu hiện chung của sự sống và ở đây “ngũ quả” tự nó biểu trưng một tập thành được coi là đầy đủ của loại lễ vật dâng cúng

Lễ Lại Mặt Không Nên Qua Loa Vì Sao? Xem Ngay

Lễ lại mặt được hiểu chính là tấm màn kết trọn vẹn cho một đám cưới, ngoài ra được biết đến với tên gọi là lễ nhị hỷ.

Đối với các cặp đôi sau khi cưới sẽ cùng nhau về nhà gái để thăm hỏi các bậc phụ huynh trong nhà, khi đó mẹ chú rể sẽ chuẩn bị sẵn mâm lễ nhỏ để cô dâu và chú rể mang về nhà cô gái. Đó được gọi là “lại mặt”.

Còn với nhà gái, bố mẹ vỡ sẽ chuẩn bị sẵn một mâm cơm thân mật trong nhà để mời con rể mới về ăn cơm.

Lễ lại mặt không chỉ mang ý nghĩa là dịp để cặp đôi trẻ thể hiện lòng biết ơn đối với công ơn dưỡng dục và sinh thành của cha mẹ vợ. Đây cũng chính là cơ hội để cô dâu được quay lại ngôi nhà mình từng sống sau những lo lắng và bỡ ngỡ trước sự thay đổi lớn của cuộc đời, đó là về nhà chồng.

Chính vì thấu hiểu lẽ đó, lễ lại mặt chính là thực hiện để đôi vợ chồng mới cưới bày tỏ lòng hiếu lễ với bố mẹ vợ, cũng là đẻ cô dâu mới xa nhà vơi đi những nhớ thương muộn phiền khi nhớ cha mẹ.

Mặt khác, nghi lễ này chính là lời nhắc nhở về chữ nghĩa và nhiệm vụ chu toàn không chỉ riêng về nhà chồng, mà còn phải có hiếu và chu đáo với nhà vợ.

Đồng thời cũng là sợi chỉ kết nối gắn bó, khăng khít của hai bên nhà thông gia với nhau.

Theo quan điểm và văn hóa từng vùng miền, có nơi tiến hành lễ lại mặt nhanh chóng ngay sau đêm tân hôn. Cũng có nơi làm lễ lại mặt sau khoảng 2 đến 3 ngày khi đám cưới vừa kết thúc.

Cũng ở một vài nơi chọn ngày thứ hai và thứ 4 để tiến hành làm lễ lại mặt cho hai vợ chồng trẻ.

Đối với khoảng cách xa về địa lý giữa hai nhà thì lễ lại mặt sẽ được làm trong khoảng 1 tuần sau khi đón cô dâu mới về.

Đặc biệt đối với một số ít quá bận rộn và có khoảng cách xa như Nam- Bắc, Việt Nam và nước ngoài thì có thể lược bỏ đi nghi lễ này.

Theo phong tục và văn hóa từ xưa, quà lễ chuẩn bị cho lễ lại mặt khá cầu kỳ và rắc rối. Điển hình như nhà trai bắt buộc phải có chuẩn bị đủ các mâm cỗ như sau: mâm trầu cau, mâm rượu, xôi, mâm thịt gà hoặc thịt heo quay để dâng lên thắp hương trên ban thờ nhà gái.

Tuy nhiên đến thời buổi hiện đại ngày nay đã khác, các gia đình không còn quá quan trọng về sự chuẩn bị trong nghi thức trong lễ lại mặt sau đám cưới.

Khác với những nghi lễ khác trong quá trình làm đám cưới và so với ngày xưa, lễ vật trong lễ lại mặt được tối giản và đơn giản hóa đi khá nhiều. Lễ vật hầu hết chỉ là những món quà nhỏ mang giá trị tinh thần để biếu cha mẹ vợ.

Con rể tới nhà lại mặt bố mẹ vợ chỉ cần chuẩn bị những phần hoa quả, bánh kẹo,…để ra mắt với bố mẹ cô dâu.

Đối với cặp đôi vợ chồng mới cưới có điều kiện cũng có thể chuẩn bị phong bì nhỏ để thắp hương trên ban thờ tổ tiên. Cũng như đã nói nếu như có thể có điều kiện kinh tế hơn, chú rể cũng có thể chuẩn bị lễ vật như trầu cau, xôi, thịt gà, chai rượu, bao thuốc lá,…mang đến nhà gái.

Đặc biệt lưu ý lễ lại mặt là bữa cơm thân mật diễn ra trong phạm vi gia đình, không cần chú trọng và mời thêm họ hàng hay bạn bè lối xóm.

Nếu có thêm thời gian và điều kiện, hai vợ chồng có thể ghé sang thăm hỏi các cô bác họ hàng bên nhà gái.

Nếu đã tiến hành tổ chức lễ lại mặt thì bắt buộc phải có sự xuất hiện của cả cô dâu và chú rể, không chỉ thể hiện sự tôn trọng với bên gia đình nhà vợ mà còn chính là làm tròn đạo hiếu- đạo làm con với bố mẹ vợ.

Vì ngoài đám cưới, lễ lại mặt chính là thời điểm quan trọng nhất để chú rể có cơ hội nói lời cảm ơn đến công ơn sinh thành và dưỡng dục của mình tới cha mẹ cô dâu.

Trong văn hóa của người Việt, đôi vợ chồng trẻ nên đến nhà bố mẹ vợ vào buổi sáng sớm, không nên đến vào lúc tối muộn, điều đó không tốt đẻ gặp gỡ lại mặt. Loại trừ với những trường hợp xem theo giờ Hoàng đạo có những tiêu chuẩn khắt khe nên mới bắt buộc phải nghe theo.

Có thể thấy rằng, lễ lại mặt là một phong tục văn hóa ý nghĩa và đẹp đẽ trong đám cưới của người Việt. Tuy nhiên đối với sự phát triển nhanh chóng của xã hội, những văn hóa cổ truyền dễ bị lãng quên. Ngoài những trường hợp cô dâu đi lấy chồng xa, có thể miễn nghi thức này. Mọi người vẫn nên cố gắng lưu giữ và bảo vệ văn hóa truyền thống này trong đời sống tinh thần của người Việt.

Để có thêm những lời tư vấn về cưới hỏi cũng như những thắc mắc khác, anh chị vui lòng để lại Họ tên và Số điện thoại để được hỗ trợ nhanh chóng.

Văn Khấn Tết Nguyên Đán Và Khai Trương… Van Khan Tet Nguyen Dan Va Ngay Khai Truong Doc

Văn khấn Tết Nguyên Đán và ngày khai trương, xuất hành cầu Phúc-Lộc-Thọ

Xuân Kỷ Sửu (2009)

Thích Minh Trí soạn & dịch

Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu (2009) là ngày Tân Mùi. HỶ THẦN xuất hiện phương TÂY NAM. QUÝ THẦN xuất hiện phương CHÍNH NAM. TÀI THẦN xuất hiện phương CHÍNH ĐÔNG.

I. TẾT NGUYÊN ĐÁN KỶ SỬU (2009) KHAI MÔN, XUẤT HÀNH

Tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu (2009) là ngày Tân Mùi. HỶ THẦN xuất hiện phương TÂY NAM. QUÝ THẦN xuất hiện phương CHÍNH NAM. TÀI THẦN xuất hiện phương CHÍNH ĐÔNG.

Vào lúc giao thừa (giờ Mậu Tý – từ 23h00 ngày 30/ tháng chạp/ Mậu Tý đến 1h00 mùng 1 Tết), chuẩn bị 2 phần lễ vật (hương, hoa, trà, quả), 1/ để cúng dường chư Phật, Bồ-tát, Gia Tiên trong nhà, 2/ để cúng Thiên Địa Thần Linh ngoài sân. Sau khi lễ khấn chư Phật, Bồ-tát, Tổ Tiên (đọc bài văn khấn soạn sẵn) trong nhà, đến bàn thờ giữa sân, chấp tay hướng về phương TÂY NAM lễ HỶ THẦN cầu hạnh phúc an lạc; hướng về phương CHÍNH NAM lễ QUÝ THẦN cầu bình an, mạnh khoẻ; hướng về phương CHÍNH ĐÔNG lễ TÀI THẦN cầu tài lộc (và đọc văn khấn soạn sẵn) sẽ được cát tường như ý. Sau đó, mở cổng hoặc cửa nhà xuất hành lên chùa lễ Phật theo hướng TÂY NAM nghênh đón HỶ THẦN, theo hướng CHÍNH NAM nghênh đón QUÝ THẦN, theo hướng CHÍNH ĐÔNG nghênh đón TÀI THẦN.

Ngày mùng một Tết, phương TÂY BẮC xuất hiện NGŨ QUỶ, phương TÂY NAM xuất hiện NGẠC THẦN (thần tai họa ), không được lễ bái, xuất hành 2 phương này; nếu phạm, cả năm dễ gặp điều không như ý đến với mình.

Ngày mùng một Tết, chỉ nên xuất hành đến chùa lễ Phật cầu phúc, cầu lộc vào các giờ: giờ Tý (23 h00 ngày 30/ tháng chạp đến 1h00 mùng 01 Tết) , giờ Dần (từ 03h00 – 05h00), giờ Mãọ, (từ 05h00 – 07h00 ); giờ Tỵ (09h00 – 11h00). Không nên xuất hành giờ Thìn (07h00 – 09h00), giờ Ngọ ( từ 11h00 – 13h00 ), giờ Tuất, (19h00 -21h00).

II. VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA TRONG NHÀ (KỶ SỬU – 2009 )

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Kính lạy: – ĐỨC ĐƯƠNG LAI HẠ SINH DI LẶC TÔN PHẬT

Nay phút giao thừa giữa năm Mậu Tý và năm Kỷ Sửu, chúng con là :…………………………………………… sinh năm: …………., hành canh: ………… tuổi ( ví dụ: 75 tuổi ), ngụ tại số nhà ………, khu phố ……….., phường………., thành phố …., tỉnh ….

Phút giao thừa vừa tới, nay theo vận luật, tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu xuân, đón mừng Nguyên đán, tín chủ chúng con thành tâm, tu biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dàng Phật- Thánh, dâng hiến tôn Thần, tiến cúng Tổ tiên, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh.

Chúng con kính mời:

Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, Hỷ Thần, Phúc đức chính Thần, ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch Tài Thần, các ngài bản gia Táo phủ Thần quân và chư vị Thần linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án, thụ hưởng lể vật. Con lại kính mời, các cụ tiên linh, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, Cô di tỷ muội, nội tộc, ngoại tộc, chư vị hương linh, cúi xin giáng phó linh sàng hâm hưởng lễ vật. Tín chủ lại kính mời các vị vong linh tiền chủ, hậu chủ, y thảo thụ mộc ở trong đất này, nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước án, chiêm ngưỡng tân xuân, thụ hưởng lễ vật.

Nguyện cho tín chủ, tân niên khang thái, ngày đêm tốt lành, thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Giải tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT MA-HA-TÁT TÁC ĐẠI CHỨNG MINH. ( lạy 3 lạy )

Văn Khấn Lễ Tế Ngu

1. Ý nghĩa Văn khấn Lễ Tế Ngu là gì?

– Văn khấn lễ Tế Ngu thường được thực hiện sau 3 ngày người nhà mất hoặc đôi khi cũng có nơi thực hiện lễ tế ngu sau khi chôn cất xong 3 ngày.

– Dân gian ta có câu:

“Ngày đầu là ngày Sơ Ngu Ngày thứ hai là ngày Tái Ngu Ngày thứ ba là ngày Tam Ngu”

2. Văn khấn Lễ Tế Ngu đúng chuẩn cổ truyền Việt Nam

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư phật mười phương.

– Con lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương

– Con kính lạy ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân

– Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ tỷ.

Hôm nay là ngày…….tháng……..năm……….

Con trai trưởng (hoặc cháu đích tôn) là………

Vâng theo lệnh của mẫu thân (nếu là mẹ hoặc phụ mẫu nếu là cha), các chú bác, cùng anh rể, chị gái, các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.

Nay nhân ngày lễ Tế Ngu theo nghi lễ cổ truyền,

Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.

Trước linh vị của: Hiển……………..chân linh

Xin kính cẩn trình thưa rằng:

Than ôi! Trên tòa Nam cực, lác đác sao thưa; (nếu khóc cha hoặc đổi là Bắc vụ nếu khóc mẹ).

Trước chốn Giao trì, tờ mờ mây khóa.

Cơ tạo hóa làm chi ngang ngửa thế, bóng khích câu, khen khéo trêu người.

Chữ cương thường nghĩ lại ngậm ngùi thay, tình hiếu đễ chưa yên thỏa dạ.

Ơn nuôi nấng áo dày cơm nặng, biển trời khôn xiết biết công lao;

Nghĩ sớm hôm ấp lạnh quạt nồng, tơ tóc những hiềm chưa báo quả;

Ngờ đâu! Nhà Thung (nếu là cha hoặc Nhà Huyên nếu là mẹ) khuất núi, trời mây cách trở muôn trùng;

Chồi Tử mờ sương, âm dương xa vời đôi ngả.

Trông xe hạc lờ mờ ẩn bóng, cám cảnh cuộc phù sinh chưa mấy, gót tiên du đã lánh cõi trần ai.

Rồi khúc tằm. áy náy trong lòng, thương thay hồn bất tử về đâu, cửa Phật độ biết nhờ ai hiện hóa.

Suối vàng thăm thẳm, sáng phụ thân (hoặc mẫu thân) một mình lìa khơi,

Giọt ngọc đầm đìa, đàn con cháu, hai hàng lã chã.

Lễ Sơ Ngu (hoặc Tái Ngu, Tam Ngu) theo tục cổ, trình bày:

Nhà đơn bạc, biết lấy gì để dóng dả.

Đành đã biết: đất nghĩa trời kinh, nào chỉ ba tuần nghi tiết, đủ lễ báo đền

Cũng gọi là: lưng cơm chén nước, họa may chín suối anh linh, được về yên thỏa

Ôi! Thương ôi!

Chúng con lễ bạc tâm thành, thành tâm kính lễ cúi xin được phù hộ độ trì.

Kính cáo!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!

Nam mô A Di Đà Phật!