【#1】Cung Thiên Di Là Gì?

Cung Thiên Di biểu thị không gian hoạt động bên ngoài của mỗi cá nhân cũng như khả năng thích ứng với sự thay đổi hoàn cảnh của đương số. Bám chặt quê hương để phát triển sự nghiệp là điều thuận lợi, nhưng cũng có người phải bôn tẩu tha hương, xuất ngoại trùng dương mới có thể cuốn gió tung mây, tung hoành ngang dọc trong nghề nghiệp của mình. Đây là những điều thường gặp trong thực tế xã hội.

Thiên Di ấy mã binh ngồi

Đánh đông dẹp bắc pha phôi cõi ngoài

Long đong đông tẩu tây trì

Chẳng qua thiên mã Thiên Di hãm nhàn

Thiên Di Nhật Nguyệt giáp đôi

Nhất sinh xuất ngọai nhiều nơi thế thần.

Thiên Di, Hoá Kỵ ra ngoài

Kẻ thù người oán chẳng ai gần mình.

Thiên Di Địa Kiếp cơ Liêm

Hồn quy phách lạc cánh tiên lánh phàm.

Quan cung Hỉ ngộ Hồng Đào

Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào.

Thiên Di Hoa cái Hỉ Thần

Thiên Di Phụ bật quý nhân yêu chiều

Chơi bời du thuỷ du sơn

Thiên Di ngộ Mã gặp thằng Đà La.

Trong Tử Vi Đẩu Số, Cung Thiên Di dùng để luận đoán về vấn đề từ nơi sinh ra, dời đến nơi khác để ở. Đồng thời cũng có thể dùng để luận đoán tình trạng xuất ngoại để kinh doanh. Cung Thiên Di của lưu niên (Lưu niên Thiên Di Cung), cũng có thể luận đoán về những tao ngộ khi đi xa, như có vui vẻ hay không, có bị trộm cướp hay không, có gặp điều gì bất ngờ hay không…

  • Do Cung Thiên Di và Cung Mệnh xung chiếu nhau. Vì vậy các sao ở Cung Thiên Di cũng ảnh hưởng đến tính cách của mệnh tạo. Đặc biệt là về năng lực xã giao, quan hệ giao tế…
  • Môn Tử Vi Đẩu Số bài bố Cung Thiên Di tam hợp với Cung Phu Thê là rất hợp lý. Bởi vì,cho dù là ở thời cổ đại, một người rời xa gia đình để phát triển hoặc vẫn ở quê hương sinh sống làm ăn. Đương nhiên cũng có quan hệ với đời sống sinh hoạt vợ chồng. Ngay cả những mối quan hệ xã giao cũng không thể không bị ảnh hưởng từ phía người phối ngẫu. Còn mang gia đình đi nơi khác lập nghiệp thì lại càng có quan hệ mật thiết với người phối ngẫu.

Do đó có thể thấy Cung Thiên Di hay các tổ hợp sao từ nó là rất quan trọng. Thậm chí có thể nói chỉ kém hơn Cung Mệnh và cung thân. Hơn nữa, khi luận đoán xu thế mệnh vận của một người, có một điểm cần biết. Đó là khi một người rời nơi mình sinh ra để đến nơi khác ở. Xu thế mệnh vận của năm đầu tiên là do Cung Thiên Di quyết định, chứ không phải Cung Mệnh. Do đó cần phải lấy Cung Thiên Di làm Cung Mệnh để xem xét, các cung vị khác thì vẫn không thay đổi.

Giả sử như một người không ngừng di chuyển (như thủy thủ, thương gia,…). Vĩnh viễn không ở lâu dài một nơi nào đó, thì Cung Thiên Di càng trở nên quan trọng, đến mức tiệm cận Cung Mệnh thân.

Khi Sao Tử Vi thủ Cung Thiên Di, chủ về xuất ngoại được người ngoài kính trọng. Nếu lại có Tả phụ hữu bật hội chiếu thì chủ đi xa là có người trợ giúp, cũng chủ về giao du rộng rãi, có nhiều bạn bè tốt.

Nếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hoặc Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, thì chủ về có quý nhân trợ lực nên được lợi ích. Nếu các sao của Cung Mệnh không cát tường, thì nên suy tính đến việc rời khỏi nơi sinh ra để phát triển.

Tử Vi hội chiêu Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thiên Mã, chủ về đi xa được tiền bạc, cũng nên xuất ngoại. Nhưng nếu đồng thời có sát tinh, Địa Không, Địa Kiếp hội chiếu thì chủ về xuất ngoại tuy kiếm được tiền bạc nhưng lại có cạnh tranh và giao du với kẻ xấu.

Nếu Tử Vi và Lộc Tồn đồng độ, chủ về xuất ngoại có thể phát tài nhưng dễ bị người ta chèn ép, bài xích. Nên tránh quá lộ tài năng.

Kình Dương, Đà La hội chiếu với Tử Vi, chủ về ít duyên với người, quan hệ giao tế kém. Cũng chủ về tâm tính không yên. Tử Vi có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Thiên Hình hội chiếu, thì ở bên ngoài gặp nhiều điều tiếng thị phi. Sát tinh nặng lại chủ về phạm pháp, phá tài.

  • Tử Vi Thiên Phủ đồng cung, xuất ngoại được người ta tôn trọng hoặc đề bạt. Rời quê hương kinh doanh hoặc làm việc, có thế đắc lợi, còn được nâng cao địa vị xã hội. Tử Vi gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, Hóa Lộc, chủ về xuất ngoại tài khi dồi dào.
  • Tử Vi Phá Quân đồng cung, xuất ngoại được người giúp đỡ. Nhưng đồng thời ắt cũng sẽ có tiểu nhân đô Kỵ, thị phi.
  • Tử Vi Thiên Tướng đồng cung, có sát tinh thì bán cát bán hung. Vừa được người trợ lực mà cũng bị người phá. Nếu không có sát tinh hội chiếu thì ở bên ngoài sẽ được như ý nguyện, cũng chủ về có thể phát đạt.
  • Tử Vi Tham Lang đồng cung, không có sát tinh hội chiếu, đi xa thường được người ta hoan nghênh, tôn trọng, và giao tế thù tạc vui vẻ. Có sát tinh, chủ về phải lao tâm lao lực mới thành sự nghiệp. Nếu gặp nhiều sao sát, Hóa Kỵ, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hinh, thì chủ về bị trộm cướp mà hao tài tốn của.
  • Tử Vi Thất Sát đồng cung, đi xa được người kính nể. Hoặc đi xa gặp quý nhân. Nhưng nếu có sát tinh và Thiên Hình hội hợp, thì chủ về ở bên ngoài bị người ta làm liên lụy hoặc hãm hại.

Nhưng nếu Thiên Cơ ở Cung Thiên Di có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp hội chiếu lại chủ về đi xa bất lợi, có điều tiêng thị phi, phá tài, nạn tai hung hiểm bất ngờ.

Nếu Thiên Cơ ở Cung Thiên Di có Thái Âm vây chiếu, chủ về đi xa có thể kiếm được tiền bạc. Có Lộc Tồn, Hóa Lộc hội chiếu, cũng chủ về đi xa có tài khí. Hội hợp với Thiên Mã càng chủ về phát đạt ở phương xa. “Lộc Mã Giao Trì” mà gặp sát tinh, chủ về cuộc đời bôn ba bận rộn; sát tinh nặng thậm chí sẽ phiêu bạt chân trời, tuy có thể đắc lợi, nhưng vất vả dị thường.

Sao Thái Dương cũng không phải là sao yên tĩnh, tuy tính hiếu động, trôi nổi không bằng Thiên Cơ. Nhưng cũng nên động mà không nên tĩnh. Cho nên phàm Thái Dương ở Cung Mệnh, không nên tịnh thủ, nên xuất ngoại phát triển. Nếu đi xa hoặc đi nơi khác ở, có thể nhờ được gần quý nhân mà thành sự nghiệp.

Nhưng nếu Thái Dương rơi vào hãm địa, thì lại chủ về xuất ngoại phải bôn ba bận rộn, lao tâm lao lực. Tuy gần quý nhân, cũng chỉ để quý nhân sai bảo.

Nếu Thái Dương Hóa Kỵ, thì nhiều bôn ba nhưng cuối cùng chẳng có thành tựu. Nếu Hóa Kỵ mà còn gặp sát tinh, ở bên ngoài dễ bị nạn tai hoặc bệnh tật.

Thái Dương ở Cung Phúc Đức gặp tứ sát tinh, Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh và Địa Không, Địa Kiếp, đi xa ắt có thị phi, phá tán, hư hao.

Khi Sao Vũ Khúc ở Cung Thiên Di, trong tình huống thông thường thì bất lợi về đi xa hoặc không nên dời đi nơi khác ở. Vì Vũ Khúc là sao chủ về tiền bạc, nên tĩnh không nên động.Cũng chủ về sau khi Thiên Di đến đất khách ắt sẽ rất bận rộn, vất vả. Có thu hoạch hay không, cần phải xem có hội được cát diệu hay không mà định.

  • Ưa nhất là gặp sao lộc, sẽ chủ về buôn bán đắc lợi ở nơi xa.
  • Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, chủ về ở nơi xa gặp nhiều thị phi trắc trở, dẫn đến bi quan, thường thường phải bị kẹt luôn ở nước ngoài (hoặc nơi xa).

Vũ Khúc gặp Tham Lang đồng độ hoặc tương hội, rất nên kinh doanh làm ăn ở nơi xa, gặp cát hóa và sao cát, hoặc gặp “Hỏa Tham”, “Linh Tham”, có thể chủ về hoạnh phát, Nếu đồng thời gặp thêm sát tinh, thì hoạnh phát rồi hoạnh phá.

Hễ Vũ Khúc đồng độ hoặc đối nhau với “Hỏa Tham”, “Linh Tham”, sau khi phát tài rất nên quay về cố hương. Nếu cung mệnh ở hai cung Sửu hoặc Mùi, vô chính diệu, đối cung là “Vũ Khúc, Tham Lang”, cần phải xem xét kĩ Thiên Tướng ở cung tài bạch của nguyên cục mà định. Được “Tài ấm giáp ấn” thì nên hồi hương, bị “Hình kỵ giáp ấn” thì không nên.

Vũ Khúc Hóa Kỵ ở cung thiên di, thường chủ về lưu lạc ở quê người. Gặp Thiên Nguyệt, sẽ chủ về bị nhiễm bệnh ở nước ngoài (hoặc nơi xa). Bị Kinh Dương, Đà La giáp cung thì chủ về chết ở nước ngoài (hoặc nơi xa).

Nếu không phải là cách cục “Vũ Tham”, thì không nên đồng cung với hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh. Nếu lại không có sao cát hội hợp, thì chủ về phiêu lưu khắp nơi, không ở yên một chỗ. Nếu đồng thời gặp thêm Lộc Tồn, Thiên Mã, sẽ chủ về vì nghề nghiệp cần phải thường xuyên thay đổi hoàn cảnh.

Cổ nhân có thuyết, “Vũ Khúc hội Thất Sát, Phá Quân, thì ở nơi xa thân tâm không được yên”, nhưng theo kinh nghiệm của Vương Đình Chi, hai tinh hệ “Vũ Khúc Thất Sát”, “Vũ Khúc Phá Quân”, bản thân Vũ Khúc cần phải được cát hóa, mới chủ về yên ổn. Nếu gặp các sao sát, kị, hình, hao, thì ở nơi xa ắt sẽ gặp trắc trở, bị phá tán, thất bại, dẫn đến bị kẹt luôn ở tha hương.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” ở cung thiên di, tính chất của các sao khá ổn định, nếu Thất Sát ở cung mệnh hội sao cát và cát hóa, thì không nên rời quê hương. Nếu cung mệnh không cát tường, mà “Vũ Khúc Thiên Phủ” có sao lộc, mới nên rời xa quê hương để phát triển.

“Vũ Khúc Thiên Phủ” rất kỵ hội Liêm Trinh Hóa Kỵ, chủ về xảy ra tình huống tình cảm bị tổn thương ở nơi xa. Nếu Vũ Khúc Hóa Kỵ, sẽ chủ về sự cố giao thông, sự nghiệp trắc trở, hay phá tài mà tình cảm bị tổn thương rất nặng.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” thủ cung thiên di, gặp sao cát thì có thể được người ta để bạt, giúp đỡ, gặp sao hung thì bị áp lực mà sinh phá tán, thất bại. Vũ Khúc cát hóa, được “Tài ấm giáp ấn” thì cát, Vũ Khúc Hóa Kị, bị “Hình kỵ giáp ấn” thì hung.

“Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng cung với Đà La, nếu không có Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp, cũng chủ về bị kẹt luôn ở tha hương.

“Vũ Khúc Thất Sát” hội Liêm Trinh Hóa Kị, lại có sát tinh đồng độ, chủ về sự cố giao thông.

“Vũ Khúc Thất Sát” ở cung thiên di, đi xa gặp nhiều trở ngại, rối rắm, dù gặp cát tinh cũng không thanh nhàn.

“Vũ Khúc Thất Sát” có sát tinh hội hợp, ở nơi xa gặp nhiều thị phi phiền phức, phá tán, thất bại

  • Kình Dương, Đà La chủ về thị phi
  • Hỏa Tinh, Linh Tinh chủ về rối ren
  • Địa Không, Địa Kiếp chủ về phá tán, thất bại.
  • Nếu gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao, chủ về phạm pháp.

Vũ Khúc độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đại khái là căn cứ tính chất của Tham Lang ở đối cung mà định. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, thì bôn ba vất vả không nặng. Có thành tựu hay không thì cần phải xem tổ hợp sao thực tế mà định. Có điều, nếu Tham Lang ở đối cung bị Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, thì đại lợi về thiên di, chủ về phát đột ngột.

Sao Thiên Đồng ở Cung Thiên Di, chủ về động tĩnh đều được. Nếu gặp “Lộc Mã Giao Trì” ở Cung Thiên Di, chủ về ở tha hương có thể trở nên giàu có. Nếu không cũng chủ về đi xa được phúc.

Nhưng nếu Thiên Đồng lạc hãm có Kình Dương, Đà La hội chiếu, thì ở bên ngoài phần nhiều bị rối bời và tai họa. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh và Thiên Hình hội chiếu, thì ở bên ngoài có tranh chấp, đấu đá. Nếu có Địa Không, Địa Kiếp hội chiếu, chủ về mất mát tiền bạc, tài vật trong chuyến đi xa. Hoặc vì chuyện phá tán hao tài mà phải ở lại nơi đất khách quê người.

Nếu Thiên Đồng nhập miếu, gặp tứ sát, Địa Không, Địa Kiếp, vẫn chủ về không yên ổn.

Sao Liêm Trinh ở Cung Thiên Di thì không nên lưu luyến nơi mình sinh ra, mà nên đi xa, ở tha hương. Ưa được các sao cát hội chiếu. Tất ngại Hóa Kỵ, kế đến là ngại gặp sát tinh.

Liêm Trinh là sao thứ đào hoa. Vì vậy nếu Liêm Trinh Hóa Kỵ, chủ về ở bên ngoài vì tửu sắc mà chuôc họa. Gặp thêm sát tinh, Thiên Hình, Đại Hao ở tam phương tứ chính, mà không có cát tinh hóa giải, thì chủ về chết ở tha hương. Nếu các sao sát, hình mà nhẹ, có sao cát nâng đỡ, nhưng gặp Thiên Nguyệt thì chủ về nhiễm bệnh ở tha hương.

Liêm Trinh rất ưa gặp Tử Vi, Thiên Tướng, có thể hóa giải tính hung của nó. Chủ về ở quê người được quý nhân trợ lực.

  • Liêm Trinh được Thiên Tướng đồng độ, khí chất sẽ chuyển thành “may mắn, bình hòa”. Chủ về xuất ngoại nhưng có tính kiên nhẫn cương nghị, cuối cùng có thể sáng lập sự nghiệp. Ưa gặp nhất là tam cát hóa và Lộc Tồn, chủ về đạt được danh lợi, dù gặp các sao sát, Kỵ, hình, hao, cũng có thể chuyển nguy thành an. Nhưng cũng chủ về ở nơi xa ít có duyên với người. Dù được Tả Phụ, Hữu Bật nâng đỡ, vẫn khó tránh khỏi sự cô độc.
  • Liêm Trinh và Thất Sát đồng độ, tình huống cát hung sẽ thay đổi rất lớn. Có Lộc Tồn, Hóa Lộc hội chiếu, chủ về ở nơi xa phát đạt. Nhưng nếu có sát tinh, Hóa Kỵ hội chiếu, thì chủ về ở nơi xa vì tiền bạc mà sinh tai nạn, hoặc vì tửu sắc mà sinh họa, hoặc có tai nạn chảy máu. Cho nên gặp kết cấu sao dạng này ở Cung Thiên Di của lưu niên hoặc của đại hạn thì trong niên hạn đó không nên xuất ngoại, đi xa, Nếu người đã rời quê hương thì nên ở yên, không được đi nơi khác nữa, đợi niên hạn đó qua mới có thể di động.
  • Kết câu Liêm Trinh và Phá Quân đồng độ tương đồng với kết cấu Liêm Trinh và Thất Sát đồng độ, mọi người có thể tham khảo ở phần trên. Nhưng Liêm Trinh và Phá Quân thủ Cung Thiên Di mà gặp sao cát, tuy có thể phát đạt, cũng chủ về phải lao tâm phí sức, nhưng thành tựu không lớn bằng kết câu Liêm Trinh và Thất Sát.
  • Liêm Trinh và Tham Lang đồng độ ở Cung Thiên Di, chủ về có sở trường giao thiệp ở nơi xa, quan hệ giao tế rất tốt, nhiều thù tạc. Gặp cát tinh thì có thể nhờ đó mà phát phúc. Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, lại chủ về phát lên một cách nhanh chóng ở nơi khác. Nếu gặp Tham Lang Hóa Kỵ, thì việc sẽ không như lí tưởng. Nếu Liêm Trinh Hóa Kỵ, thì chủ về ở nơi xa vì tửu sắc mà sinh tai ách.
  • “Liêm Trinh Thiên Phủ” đồng độ, ở bên ngoài giao du rộng rãi. Gặp cát tinh, có thể làm thương gia giàu có. Gặp sát tinh, thì làm việc phần nhiều phải hao tổn tinh thần.

Sao Thiên Phủ ở Cung Thiên Di, chủ về nên có đủ động tĩnh. Nếu xuât ngoại hoặc đi ở nơi khác, có thể vừa ý, hơn nữa còn được người ta tôn trọng, có trợ lực, sáng lập sự nghiệp hoặc kinh doanh làm ăn đều có thể thành giàu có. Nhất là có Vũ Khúc đồng độ hoặc hội chiếu, lợi về viễn du trùng dương, sẽ trở nên giàu có.

Thiên Phủ rất ngại lạc hãm, gặp Đà La, Hỏa Tinh mà còn gặp thêm Ác Sát, thì ở nơi xa nên đề phòng tiểu nhân có âm mưu hãm hại.

Nếu có Kình Dương, Thiên Hình đồng độ, thì chủ về bị tiểu nhân gây tổn hại. Gặp Đại Hao thì chủ về phá tài.

Nếu có Kình Dương, Thiên Nguyệt đồng độ, thì chủ về nhiễm bệnh ở tha hương.

Thái Âm Hóa Kỵ ở cung miếu vượng, chủ về do dự, thiếu quyết đoán. Hoặc bị dẫn dụ đầu tư mà gây nên tổn thất; gặp sát tinh càng chủ về nhiều điều tiếng thị phi.

Thái Âm có Địa Kiếp, Địa Không đồng độ, ở nơi xa ắt có phá tán hao tài.

Phàm Thái Âm ở Cung Thiên Di, bất kể ở cung độ nào, dù có cát tinh hội hợp, cũng không nên tranh cường hiếu thắng với người khác. Phàm việc gì cũng nên nhường ba phần, trái lại sẽ biến thành phúc trạch.

Sao Tham Lang ở cung thiên di, chủ về ở nơi xa có nhiều hoạt động giao tiếp xã hội. Tính chất các hoạt động giao tiếp này, phải xem kèm cung mệnh và cung phúc đức mà định.

Tham Lang Hóa Lộc hay Hóa Quyền, thì giao lưu vui vẻ, kết giao rộng rãi, nếu ở hai cung Tí hoặc Ngọ thì còn được bạn bè tôn trọng. Nhưng nếu Tham Lang Hóa Kỵ, thì thường vì giao lưu vô vị mà dẫn đến phiền phức, tranh chấp, dù có sao cát đồng thời hội hợp, cũng chủ về giao lưu nhiều mà không có thu hoạch.

Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, chủ về ở nơi xa náo nhiệt, nhưng phần chỉ giao du ngoài mặt, mà khó có bạn tri âm. Có thêm sao lộc đến hội hợp sẽ chủ về nhờ giao lưu mà kiếm được tiền.

Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, nếu gặp sát tinh hoặc Hóa Kỵ (các sao sát, kị tụ hội thì càng tệ), sẽ chủ về ở nơi xa bề ngoài thì vẻ vang, nhưng lợi ích thực tế thì bị người ta đoạt mất.

Tham Lang đồng độ với Kình Dương, Đà La, chủ về đi xa gặp nhiều thị phi, mà thường do giao lưu, vui chơi gây ra.

Tham Lang độc tọa cung thiên di, Hóa Lộc hay Hóa Quyền, hoặc gặp Liêm Trinh Hóa Lộc hội hợp.

  • Dù không có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, cũng chủ về thiên di đến đất khác tương lai sáng sủa phát đạt.
  • Gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh càng chủ về phát đột ngột, nhưng nếu đồng thời lại gặp các sao sát, kị, thì sau khi phát đột ngột ắt sẽ suy sụp nhanh chóng.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp Liêm Trinh vây chiếu, chủ về ở nơi xa hay giao du tửu sắc, bận rộn, vất vả nhiều,

  • Gặp thêm cát tinh và cát hóa cát thì nhờ vậy mà phát đạt
  • Gặp Văn Xương, Văn Khúc thì thi tửu tiêu sái, hoặc được người nơi xa hoan nghênh.
  • Nếu gặp các sao đào hoa, sẽ chủ về tửu sắc
  • Gặp sao đào hoa và Văn Xương, Văn Khúc thì cờ bạc.

Cần phải xem xét có các sao sát, kị hay không mà định cát hung.

Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, Hóa Kỵ, là bị người ta đoạt người yêu. Vì vậy không nên tửu sắc, lúc xử lí thương vụ cũng có điềm tượng bị tranh đoạt.

Tham Lang ở cung Thìn hoặc Tuất, không cần gặp thêm các sao đào hoa cũng chủ về tham luyêh tửu sắc. Được cát hóa và có sao cát, thì kinh doanh làm ăn có thể phát.

Tham Lang ở cung Thìn hoặc Tuất, được xem là sao đào hoa, không chủ về văn vẻ. Nó ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, sẽ chủ về được người ta dìu dắt, giúp đỡ, hoặc chủ về có sẵn cơ hội. Trường hợp đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, thiên di có thể trở nên giàu có, gặp thêm sát tinh thì đề phòng hoạnh phát rồi hoạnh phá.

“Liêm Trinh, Tham Lang” cùng thủ cung thiên di, chủ về xuất ngoại phải trải qua gian khổ, gặp sao đào hoa các sao sát, kị, thì vì tửu sắc mà chuốc họa.

“Tử Vi, Tham Lang” thủ cung thiên di, nên rời quê hương để phát triển, cũng lợi về tự kinh doanh làm ăn.

“Vũ Khúc, Tham Lang” thủ cung thiên di, ắt sẽ là nhà buôn lớn. Nếu Vũ Khúc Hóa Kỵ, thì vì tửu sắc mà chuốc thị phi.

Đến lưu niên Tham Lang thủ cung thiên di, nguyên cục có sát tinh, bị lưu sát tinh xung khởi, còn gặp các sao Thái Tuế, Tuế Phá, Quan Phù, Đại Hao, lại gặp Hỏa Tinh hội hợp, chủ về binh tai chiến họa, hoặc bị tham quan vu oan.

Nếu Cự Môn Hóa Kỵ, thì đi xa gặp nhiều điều tiếng thị phi, sự tình rối bời, khiến tinh thần không yên. Hơn nữa còn vất vả bôn ba mà ít thành tựu.

Nếu có Thái Dương ở cung Tị hoặc cung Ngọ hội chiếu. Do ánh sáng của Thái .Dương quá mạnh, thì trái lại, sẽ dễ bị tiểu nhân đố Kỵ.

Cự Môn ở Cung Thiên Di gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Đại Hao hội chiếu. Xuất ngoại dễ bị tai họa, còn chủ về duyên với người không tốt, bị nhiều thị phi. Nếu lại gặp Lưu Hóa Kỵ và lưu sát tinh cùng đến, thì có tai họa lao ngục, hoặc lục thân hình khắc.

Vì vậy Cự Môn ở Cung Thiên Di mà hội hợp các sao xấu thì không nên rời quê hương đi xa.

Thiên Tướng không nên có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Kiếp Sát hội chiếu. Nếu không sẽ chủ về gặp nhiều sóng gió, trắc trở ở nơi xa. Nếu có Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình hội chiếu, thì chủ về ở nơi xa dễ bị họa, bị tiểu nhân hãm hại. Có sao cát tinh hóa giải, cũng chủ về ít duyên với người.

Thiên Lương thủ Cung Thiên Di ở Ngọ, cũng ưa đi xa, nhưng Thiên Lương mà ở cung độ này thì dễ bị tiểu nhân đố kỵ, không nên cố xuất đầu lộ diện, cũng không nên phê bình sai lầm của người khác.

Thiên Cơ và Thiên Lương cùng thủ Cung Thiên Di, chủ về có nhiều cơ hội đi xa, nhưng ở bên ngoài sẽ gặp nhiều biến động, khiến mệnh tạo bất an, không bằng ở quê nhà.

Thái Dương và Thiên Lương đồng độ, chủ về thành danh ở quê người. Thích hợp theo ngành y dược, pháp luật, kế toán, hoặc nghiên cứu khoa học.

Nếu Thiên Lương và Hóa Kỵ đồng độ, chủ về xuất ngoại sẽ bị nhiều điều tiếng thị phi. Nếu lại gặp tứ sát tinh hội chiếu, xuất ngoại sẽ có tai họa, còn chủ về bị tiểu nhân ngầm tổn hại.

Khi Sao Thất Sát ở Cung Thiên Di, thông thường đều chủ về ở quê người, có quyền thế, có uy phúc, và khiên cho người ở đó kính nể.

Nếu có Thiên Hình đồng độ, thì có tai họa ở quê người. Nếu Thất Sát lạc hãm, chủ về ở nơi xa bị người ta làm liên lụy, hoặc bị áp lực. Nếu lại gặp sát tinh, thì chủ về bị uy hiếp.

Thất Sát ở Cung Thiên Di có Kình Dương và Đà La đồng độ, ở quê người rất nên theo võ nghiệp. Hoặc theo ngành khoa học ứng dụng, nghề nghiệp chuyên môn. Nếu không sẽ chủ về ít duyên với người, còn phải trải qua gian khổ mới được ổn định.

Thất Sát ưa Hỏa Tinh và Thất Sát đồng cung, chủ về có tiền của bất ngờ. Nếu có Linh Tinh và Thất Sát đồng độ, chủ về lấy võ nghiệp, hoặc nghề nghiệp để lập thân, thì sự nghiệp có thể thành tựu.

Nếu Thất Sát có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, thì nên đầu tư vào ngành công nghiệp, nếu không sẽ chủ về lông bông không nơi nương tựa.

Thất Sát có Vũ Khúc Hóa Kỵ đồng độ, chủ về ở quê người có tai họa. Hoặc sự nghiệp thất bại, còn chủ về dính dáng đến phạm pháp.

Thất Sát và Liêm Trinh đồng độ ở cung Sửu, chủ về xuất ngoại khó được tốt lành, còn chủ phát sinh điều tiếng thị phi.

Nhưng Thất Sát và Tử Vi mà cùng thủ Cung Thiên Di, thì chủ về xuất ngoại được người ở đó tôn trọng, kính nể, rất là cát tường.

Sao Phá Quân thủ Cung Thiên Di, nếu rời quê hương. Đều chủ về dùng nghề nghiệp để mưu sinh, hoặc dựa vào tri thức chuyên môn, kĩ năng chuyên môn để lập nghiệp. Nếu gặp cát tinh, sẽ được người kính phục, ngưỡng mộ.

Gặp sao cát thì phát đạt, thêm sát tinh thì thiếu yên ổn.

Văn Xương, Văn Khúc Hóa Kỵ ở Cung Thiên Di, ở nơi xa có khả năng mất trộm, hoặc phá tài.

Gặp sao cát thì chủ về có nhiều trợ lực.

Thêm các sao sát, hình, Kỵ, thì trái lại, sẽ chủ về có tiểu nhân cạnh tranh, bị điều tiếng thị phi.

Ớ nơi xa chủ về gặp quý nhân phù trợ; hoặc chủ về nhờ thích ứng phong tục, tập quán của nơi xa đó nên dẫn đến việc phát phúc.

Gặp các sao sát, Kỵ, hình, hao, trái lại sẽ chủ về làm việc phí sức

Hội được cát tinh thì ở nơi xa có thể kinh doanh và trở nên giàu có. Gặp hung sát tinh thì ít duyên với người.

Chủ về bị cạnh tranh, chủ về duyên với người không tốt, quan hệ nhân tế kém, cũng chủ về thị phi; gặp thêm Thiên Hình, Đại Hao thì nạn tai tật bệnh, hoặc chủ về phạm pháp kiện tụng.

Chủ về tuy có cơ hội tốt để xuất ngoại nhưng vì tính lần nữa mà không thành.

Gặp các sao ác, hung hội hợp, chủ về ít duyên với người, quan hệ nhân tế kém, bị người đố Kỵ.

Thông thường chủ về đi xa có chuyện thị phi. Gặp Hóa Kỵ, Thiên Hình thì chủ về đi xa có điều tiếng thị phi, phạm pháp. Nếu gặp các sao cát, thì trái lại, sẽ phát đạt ở quê người, nhưng vẫn phải lao tâm lao lực, bôn ba vất vả.

Thông thường đều chủ về trở ngại. Gặp thêm Kình Dương, Thiên Hình, Hóa Kỵ, thì thất bại ở quê người.

Mạn đàm tứ Hóa đối với Cung Thiên Di

  • Hóa Quyền ở Cung Thiên Di tuy có nhiều cơ hội. Nhưng vì Hóa Quyền vốn có hàm ý là biến đối mau lẹ. Thêm vào đó, nếu sao Hóa Quyền là loại sao có tính biến động lớn, thì cơ hội sẽ qua đi nhanh như chóp, mệnh tạo rất khó nắm bắt. Muốn biết có nắm bắt được hay không thì phải xem vị trí của Hóa Lộc và Hóa Kỵ và Hóa Kỵ nhập Cung Thiên Di, sẽ khiến Hóa Quyền và Hóa Kỵ thành tình trạng “giao chiến”. Khi ra bên ngoài phải phòng tai nạn giao thông, xảy ra bất trắc. Lúc này phải xem xét tình hình cát hung ở Cung Phu Thê (cung vị khí số của Cung Thiên Di) để định.
  • Cung Thiên Di đồng thời còn là cung vị tài bạch (cung vị biểu hiện) của người phối ngẫu. Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Thiên Di, là chủ về người phối ngẫu có thể mạnh trong môi trường làm việc. Cũng vì Hóa Quyền nên mệnh tạo sẽ kiếm tiền khá vất vả, nhưng cũng có thể thúc bách làm cho mệnh tạo có lý tưởng, có nguyện vọng.
  • Cũng cùng một dạng, Hóa Quyền ở cung vị biểu hiện của người phối ngẫu, là chủ về trong cuộc sống chung của hai người, người phối ngẫu sẽ là phía chủ đạo, cá tính cũng mạnh mẽ hơn; dưới áp lực (hoặc yêu cầu) của người phối ngẫu (có biểu hiện xuất sắc), sẽ khiến cho mệnh tạo không còn cách nào khác, phải nỗ lực.

Cung Thiên Di còn là cung vị khí số của Cung Phúc Đức, trường hợp Hóa Quyền ở Cung Thiên Di, cũng chủ về sở thích, thị hiếu của mệnh tạo không kéo dài và hay thay đổi. Ngoài ra, quan niệm của mệnh tạo về nghỉ ngơi, giải trí cùng khác với người ta. Quá trình hưởng thụ, nghỉ ngơi của mệnh tạo thường không được nhẹ nhàng, thường là bồi dưỡng kiến thức, hay học tập một nghề mới.

Vị trí của Cung Thiên Di trong mệnh bàn là đối nhau với Cung Mệnh, hàm nghĩa rộng là tượng trưng cho thế giới ở bên ngoài. Trường hợp thế giới ở bên ngoài có Hóa Lộc, thường thường chủ về được trời ban cho khá nhiều cơ hội, mệnh tạo phóng tầm mắt đến đâu cũng đều thấy có lợi.

  • Do Cung Thiên Di còn là cung vị chủ về xuất ngoại, danh tiếng ở bên ngoài. Nên trường hợp Cung Thiên Di có Hóa Lộc sẽ chủ về cho người ta ấn tượng đầy tình người, thường thường quan hệ với người chung quanh rất tốt đẹp.
  • Cung Thiên Di cũng tượng trưng cho những gì thấy trước mắt. Có thể luận đoán về những khó khăn sẽ phải đối mặt, còn có thể luận đoán về kì vọng tương lai của mệnh tạo. Vì có Hóa Lộc, nên mệnh tạo đầy mơ tưởng ở tương lai và không cam chịu trong cô đơn tịch mịch.

    Hóa Lộc chủ về “nhiều”, cũng chủ về mệnh tạo muốn theo đuổi rất nhiều điều, khó có sự thỏa mãn. Không ngừng tìm kiếm giấc mộng đẹp, nhưng tâm tư của mệnh tạo cũng dễ dao động. Nhiều lúc có lối suy nghĩ hơi thiếu thực tế.

  • Hóa Lộc cũng chủ về hi vọng, trường hợp Hóa Lộc ở Cung Thiên Di, là chủ về có nhân sinh quan đúng hướng, rõ ràng. Hơn nữa, vì Hóa Lộc ở “tha cung”, họ vẫn sẽ nỗ lực, lạc quan theo đuổi viễn cảnh tương lai.

    Nhưng nếu Hóa Kỵ [năm sinh] ở vào vị trí không thích đáng, mà Hóa Lộc ở Cung Thiên Di. Thì phải lo đại vận sẽ khiến Hóa Lộc chuyển sang Hóa Kỵ, tức thành “Song Kỵ”. Sẽ khiến mệnh tạo vì lạc quan quá đáng mà bị đả kích rất nặng.

  • Cung Thiên Di có Hóa Lộc, là chủ về sự vật ở hoàn cảnh bên ngoài thu hút sự chú ý của mệnh tạo. Một khi có được sức mạnh của đại vận tác động, là chủ về sẽ đạt được nguyện vọng ra bên ngoài, đi xa. Đồng thời còn có nhiều cơ hội “dịch động”.
  • Cung Thiên Di còn là cung vị giao dịch (cung vị đối đãi) của Cung Phu Thê. Trường hợp Hóa Lộc xuất hiện ở cung vị đối đãi của hai người. Có thể đoán người phối ngẫu đối xử khá tốt với mệnh tạo, tình cảm qua lại của hai người cũng không tệ.
  • Do là cung vị tài bạch của người phối ngẫu, thông thường còn chủ về người phối ngẫu có năng lực. Nhưng vì Hóa Lộc còn tượng trưng cho “có tiền”, nếu sao hóa thuộc loại sao chủ về tiền bạc, thì năng lực kiếm tiền của người phối ngẫu cũng không phải vừa.

Hơn nữa, vì đại vận sẽ dẫn khởi Hóa Kỵ đến xung kích Cung Mệnh, nên cuộc đời của mệnh tạo hay đối mặt với những áp lực. Tình huống bất lợi, và trở ngại trùng trùng, dù đang ở trong đại vận bình an vô sự, đương sự cũng dễ vì kinh nghiệm đã trải qua mà cảm thấy lo lắng không yên về tiền đồ tương lai, không cách nào diễn tả được.

Cung Thiên Di cư ở cung vị tật ách của cung phụ mẫu. Trường hợp có Hóa Kỵ, tức sức khỏe của song thân có vấn đề, mà vấn đề này sẽ làm cho mệnh tạo rất bối rối. Vì Hóa Kỵ ở Cung Thiên Di trực xung Cung Mệnh. Do đó, thường thường trong đại vận thứ nhất mệnh tạo phải đối mặt với hoàn cảnh biến động thay đổi, một trong song thân sẽ có vấn đề về sức khỏe, lúc này không nên thấy Thiên Hình, nếu không sẽ có tang sự báo hiếu với tầng suất rất cao.

Rất có duyên với người chung quanh, có tính độc lập và tự chủ; có thể gánh vác công việc một mình ở bên ngoài.

Thường bôn ba ở bên ngoài, thời gian ở bên ngoài nhiều và lâu dài, nhưng lúc ở ngoài sẽ nhớ nhà, cho nên thường cũng không đi xa lắm.

Đi xa dễ kiếm tiền hơn, cũng có phát triển hơn.

Kiếm tiền nhẹ nhàng, tự kiếm tiền tự tiêu xài.

Có tiền cũng không mua nhà cửa, cảm thấy thỏa mãn với gia sản của tổ tiên.

Là người thông minh, ở bên ngoài có duyên với người chungquanh.

Kiếm được tiền thích hưởng thụ, ra ngoài vui vẻ, lộc ăn không thiếu.

Ra ngoài phải dựa vào bản thân, có nhiều cơ hội, kiếm đượctiền.

Rất có duyên với người chung quanh, giao du rộng, hòa hợp với bạn bè, tình cảm anh chị em tốt đẹp, vui vẻ hạnh phúc.

Có thể nhờ anh em hoặc bạn bè trợ giúp mà kiếm tiền, có tiền cũng mang về cho anh em bạn bè hường chung.

Công việc hay sự nghiệp phát triển thuận lợi, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Sự nghiệp có không gian để phát triển, có thể được người phối ngẫu trợ giúp, làm cho sự nghiệp phát triển thuận lợi.

Người phối ngẫu rất có duyên với người chung quanh, có thể nhờ quý nhân khác giới tương trợ mà lập nên cơ nghiệp, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Con cái có duyên với người chung quanh, ra ngoài vui vẻ, có nhiều trợ lực.

Con cái sống với nhau vui vẻ hạnh phúc.

Ra ngoài nhiều giao tế thù tạc, thích nơi đông đúc, náo nhiệt quan hệ giao tế rất tốt.

Ra ngoài vui vẻ, nên đi xa, thường biến động; phần nhiều lúc xuất ngoại đều có kế hoạch tỉ mỉ.

Ở bên ngoài có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Tài vận tốt, có nhiều cơ hội kiếm tiền.

Sống khá thọ, có thế trên 90 tuổi.

Người phối ngẫu sẽ giúp vốn cho mệnh tạo làm ăn.

Là người lạc quan, tâm trạng bình hòa, có duyên với người chung quanh, có quan hệ tốt, ra ngoài thường được như ý, thân tâm vui vẻ.

Ở bên ngoài gặp nhiều đào hoa, cũng cần phải chú ý vấn dề ăn uống.

Rất có duyên với người chung quanh, giao du rộng, hòa hợp với bạn bè; có thể được anh em, bạn bè trợ giúp mà kiếm được tiền, có tiền cũng sẽ mang về cho anh em và bạn bè cùng hưởng.

Công việc hay sự nghiệp ổn định.

Công việc hay sự nghiệp khá bôn ba vất vả, nhưng có nhiều cơ hội kiếm tiền, tài vận tốt.

Có thể được cấp trên xem trọng, đồng sự vui vẻ.

Sống rất thọ, có thể thọ trên 90 tuổi.

Ra ngoài có nhiều cơ hội kiếm tiền, có thể mua tậu nhà cửa, nuôi dưỡng gia đình.

Sàn nghiệp sẽ tăng lên, vợ chồng hòa mục.

Cẩn thận phòng nạn tai bất ngờ.

Ra ngoài có khẩu phúc, tài vận tốt, được hưởng thụ.

Vợ chồng hòa mục.

Sự nghiệp của người phối ngẫu có phát triển.

Ra ngoài tự lo liệu, không để người khác phải lo lắng; dễ được trường bối, quý nhân tương trợ.

Thích hợp làm công chức, cẩn thận phòng nạn tai bất ngờ.

Chú ý thói quen ăn uống, và vấn đề vệ sinh.

Không quá tín nhiệm ai, trong ngoài phân biệt rất rõ ràng, khá chuyên quyền, sợ quyền lực rơi vào tay người khác.

Cá tính mạnh, sáng suốt tài cán và có kinh nghiệm, thích lãnh đạo người khác, nhưng lại không có thực quyền.

Thích đấu đá với người khác, dễ chuốc thị phi.

Tính bướng binh, ưa ra oai, phách lối, không câu nệ tiểu tiết.

Thích biểu hiện cái tôi, ưa được người ta kính trọng, dễ phạm tiểu nhân.

Sức hoạt động khá mạnh, làm việc khó giữ giới hạn cùa mình,ưa can thiệp, xen vào chuyện cùa người khác.

Ờ bên ngoài dễ bị tổn hại.

Có năng lực và tài năng, là người có bản lãnh; ra ngoài biểu hiện ưu tú, được người ta tôn trọng và khẳng định.

Nhưng nếu mệnh tạo muốn nắm quyền hoặc tranh giành địa vị lãnh đạo với người khác, sẽ dễ xảy ra phiền phức, rắc rối.

Lực cạnh tranh khá mạnh, có phát triển, cần phải trải qua nỗ lực phấn đấu mới có thành tựu.

Giao tế rộng, có tác phong thương nghiệp đô thị; có tài năng, địa vị và danh vọng, ưa tranh cường hiếu thắng, thích làm nhân vật lãnh đạo, tranh giành địa vị, mà xúc phạm, làm người khác khó chịu, chuốc thị phi.

Công ty hoặc nơi làm việc có lực cạnh tranh.

Người phối ngẫu có địa vị, có thể nắm quyền, hay có nhiều ý kiến, dễ xảy ra tranh chấp.

Sự nghiệp thuận lợi, có nhiều cơ hội phát triển.

Người phối ngẫu rất có năng lực, có tài năng, làm việc chăm chi hay cạnh tranh, nhiều thị phi.

Thích ra bên ngoài, ở bên ngoài phần nhiều đều có biểu hiện ưu tú; ở nhà hay ra oai, ưa khiêu khích.

Hợp tác làm ăn có phát triển.

Ở bên ngoài dễ có đào hoa theo kiểu nhục dục, dễ có hành vi khinh suất.

Thích kiếm tiền, cũng có nhiều cơ hội; khá bận rộn, vì công việc làm ăn mà phải giao tế thù tạc nhiều.

Kiếm tiền vất vả, gặp nhiều cạnh tranh.

Tiêu xài tiền rộng rãi cho việc hưởng thụ; có phong cách thương nghiệp đô thị.

Có thể dựa vào tài năng, nghề nghiệp chuyên môn để tự lực kiếm tiền.

Cá tính mạnh, rất nóng nảy, sức hoạt động mạnh.

Cơ thê dễ bị tai nạn gây tổn thưcmg.

Có tài năng, sự nghiệp như ý, có tham vọng quyền lực, dễ xảy ra xung đột, sẽ gặp phiền phức, rắc rối.

Tâm trạng bất ổn, dễ có mâu thuẫn nội tâm.

Giao du rộng, tiêu xài tiền hào phóng, giỏi giao tế, có năng lực lãnh đạo, được nhiều trưởng bối và bạn bè trợ lực.

Giao du bạn bè có chọn lựa, bạn bè có năng lực, cạnh tranh nhau, dễ có tranh chấp.

Có tinh thần trách nhiệm, có nhiều cơ hội thăng tiến, sùng thượng địa vị và quyền lực, có xung lực sáng lập cơ nghiệp, sự nghiệp có phát triển.

Bất động sản thường sẽ tăng giá trị, không thỏa mãn với tổ nghiệp.

Mua thêm bất động sản, hoặc cho thuê nhà.

Thường ra ngoài, ờ bên ngoài không bị câu thúc.

Thích hường thụ, sẽ phô trương, sang trọng, hào phóng, ưa thể diện, tạo sự chú ý.

Có năng lực quản lí tài chính, tài vận tốt.

Ra ngoài được trưởng bối, quý nhân đề bạt, nâng đỡ, trợgiúp.

Ra ngoài dễ bị người ta cưỡng bức, gây tổn thương, khiến người nhà lo lắng.

Nói năng nhã nhặn, cử chỉ có phong độ, lịch sự, thông minh,hiền hòa, không tính toán so đo.

Nên đi xa để học tập, ròi xa gia đình tìm hướng phát triển sẽ dễ có thanh danh.

Rất có duyên vói người chung quanh, cộ tiếng tăm ờ bên ngoài, có thể nhờ văn hóa nghệ thuật mà danh tiếng vang xa.

Ra bên ngoài sẽ vui vẻ, được nhiều quý nhân tương trợ.

Trợ lực cho anh chị em, là quý nhân của họ.

Xã giao hòa hợp với bạn bè, bạn bè phần nhiều là người hiền hòa, lễ độ, “quân tử chi giao”, bạn bè thường là người có tiếng tăm.

Bạn bè phần nhiều có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Sáng lập được cơ nghiệp, trong công việc có quý nhân giúp đỡ, sự nghiệp bình ổn, có tiếng tăm nhưng không mở rộng.

Người phối ngẫu có thanh danh, có trợ lực cho sự nghiệp của mệnh tạo.

Vợ chồng sống với nhau bình yên, hòa hợp, ít xảy ra tranhchấp.

Thường đi xa, ra ngoài nhiều vui vẻ, có quý nhân giúp đỡ; cũng sẽ có đào hoa, nhưng thuộc loại đào hoa về tinh thần.

Mệnh tạo ờ bên ngoài thường nghĩ về gia đình; con cái ở bên ngoài có tiếng tăm.

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, cân đối thu chi, thu nhập ổn định, tài vận bình ổn, thuận lợi, ít nhưng đều đặn.

Ở bên ngoài có quý nhân giúp đỡ, xừ sự với mọi người một

Rất có duyên với người chung quanh, sức khỏe tốt, gặp nhiều quý nhân, dễ được trưởng bối quan tâm.

Ở bên ngoài có tâm tình tốt, tâm trạng ổn định, ít nạn tai.

Giao du với bạn bè hiền hòa, lễ độ, có quý khí,cólítính,cónhiều trợ lực, có thể giúp đỡ lẫn nhau.

Anh chị em quan tâm lẫn nhau, đối xử với nhau rất tốt, ít có chuyện tranh chấp.

Bạn bè phần nhiều đều có chút tiếng tăm.

Công việc hay sự nghiệp đều bình yên, ổn định, có tiếng tăm, ít xày ra biến động, nhưng quy mô không lớn.

Đi làm hưởng lương sẽ ổn định, dễ thăng tiến.

Vợ chồng hòa hợp, ít có chuyện tranh chấp.

Thường có cơ hội đi ra ngoài, sinh hoạt gia đình vui vẻ, có không khí thư hương thanh nhã, có danh tiếng.

Gia sản ít biến động, cảm thấy thỏa mãn với tổ nghiệp, sống yên ở quê nhà.

Ra ngoài có tâm tình tốt, có thể hường phước, làm công việc khá nhàn hạ.

Dùng tiền có kế hoạch rõ ràng, có thể cân đối thu chi, “tài vận” binh ổn, ít sóng gió.

Cung Thiên Di Hóa Khoa nhập cung phụ mẫu:

Có thể được trường bối quan tâm chiếu cố, đề bạt, nâng đỡ.

Ra bên ngoài không được chuyện thị phi, tâm tình ổn định, có nhiều trợ lực, không làm cho gia đình lo lắng.

Tính khí bất định, tâm trạng dễ bị hoàn cảnh bên ngoài ảnh hường hoặc kích thích.

Tính tình kì quái, thẳng ruột ngựa.

Có mặc cảm tự ti, dễ bị thiệt thòi.

Ra bên ngoài không được yên ổn, thường nhớ gia đình.

ít gặp quý nhân, duyên với người chung quanh rất kém, ít được trợ lực, dễ phạm tiểu nhân, chuốc nhiều thị phi.

Không nhẫn nại, thiếu bình tĩnh, thường có cơ hội xuất ngoại hay đi xa, ra bên ngoài sẽ bôn ba nhiều, không được thuận lợi, nên phòng nạn tai bất ngờ, dễ có “huyết quang”.

Cơ thể suy nhược, tiên thiên bất túc; làm lụng khá vất vả; giữa vợ chồng thường hay xảy ra tranh chấp.

Vận về già khá cô độc, một đời nhiều thăng trầm, khá gập ghềnh

Người phối ngẫu tiêu xài nhiều tiền ở bên ngoài.

Không thích đi xa, đi xa sẽ muốn về nhà, không chịu ở lại lâu; nhưng cũng thường bôn ba ở bên ngoài.

Ra bên ngoài không được thuận lợi không nên đi xa làm ăn, ở bên ngoài không có quý nhân, dễ phạm tiểu nhân, duyên với người chung quanh rất kém, thường bị thiệt thòi.

Sự nghiệp ở tha hương hay nước ngoài đều bất lợi, nên phát triến ở quê nhà, thích hợp làm nghề buôn bán có tính lưu động.

Không nên đầu tư sáng lập cơ nghiệp, thích hợp dựa vào nghề nghiệp chuyên môn để mưu sinh.

Đi xa dễ gặp sự cố giao thông, nên cẩn thận phòng tai họa “huyết quang”.

Anh chị em không có trợ lực, bạn bè giao du không nhiều, ít bạn bè tri kỉ, bạn bè không trợ lực, qua lại tiền bạc với bạn bè dễ gặp phiền phức, rắc rối.

Công việc hay sự nghiệp không được thuận lợi, ít phát triển.

Ra bên ngoài sẽ tiêu xài nhiều tiền, thu không bằng chi, ảnh hưởng đến sinh kế gia đình.

Người phối ngẫu tiết kiệm tiền, sợ bị chịu thiệt, hay so đo tính toán.

Sự nghiệp rơi vào hoàn cảnh xấu, không thuận lợi, mệt mỏi bận rộn mà không có thu nhập.

Ra bên ngoài dễ gặp nạn tai, dễ mắc bệnh.

Tình cảm vợ chồng không hòa hợp; sự nghiệp của người phối ngẫu không có trợ lực.

Dịch mã động, thường đi xa, bôn ba nhiều mà không thuận lợi.

De gặp nạn tai, thường hay dời nhà, xuất ngoại, có khả năngdi dân.

Gia vận không phát, rất ít khi ở nhà, cần chú ý phòng sự cố giao thông hoặc đánh nhau với người ta.

ít có cơ hội kiếm tiền, vì tiền mà phải bôn ba nhiều, khó sống hòa hợp với người khác, không biết giao tế, sự nghiệp phát triển không thuận lợi.

Ra bên ngoài không thuận lợi, vì hưởng thụ mà tiêu xài tiền một cách uổng phí.

Tài vận của người phối ngẫu không thuận lợi, tiền bạc dễ bị hao tốn; bận rộn kiếm tiền nên không có phúc hưởng thụ.

Thường có cơ hội đi nước ngoài, nhưng ra bên ngoài không được thuận lợi, thường không hợp thủy thổ, ảnh hưởng đến sức khỏe thân tâm.

Nơi làm việc, cơ sở doanh nghiệp không ổn định.

Ra bên ngoài gặp nhiều nạn tai, tâm trạng không ổn định, dễ bị thua thiệt, ít được trưởng bối, quý nhân quan tâm.

Anh chị em ít trợ lực, ít gặp quý nhân; không có bạn bè tri ki, ít bạn bè, giao tế kém.

Công việc hay sự nghiệp đều phát triển không thuận lợi, đi làm công ty quy mô nhỏ.

Sinh hoạt gia đình khá vất vả khổ sở.

Sự nghiệp phát triển không thuận lợi, không có bối cảnh nhân sự tốt trong công việc, bận rộn mà thu hoạch không lớn, làm nhiều mà thành ít.

Ra bên ngoài cần phải phòng tai họa, nạn tai bất ngờ.

Không thích hợp tự sáng lập cơ nghiệp, dễ có nguy cơ.

Vợ chồng sống với nhau kkông được hòa hợp, sinh hoạt tình cảm không thuận lợi.

Chủ về biến động, sẽ dời nhà hoặc sẽ dời công ty.

Ra bên ngoài dễ có sự cố giao thông, phải cẩn thận gây ra tai nạn, dễ xảy ra nạn tai bất ngờ.

Không cảm thấy thõa mãn với tổ nghiệp, nhưng khó mua tậu nhà cửa.

ít được hưởng phước, phúc khí kém, bận rộn nhiều mà thànhtựu ít.

Thể chất kém, tài vận không tốt.

Vì hưởng lạc mà lãng phí tiền bạc, không có kế hoạch rõ ràng, không tiết chế. Sự nghiệp của người phối ngẫu phát triển không thuận lợi, vợ chồng duyên phận bạc, thường hay xảy ra tranh chấp hoặc gần nhau ít mà xa nhau nhiều, ít trao đổi cảm thông nhau.

Thường có cơ hội đi nước ngoài, nhưng dễ không hợp thủythổ, dễ có tai họa bất ngờ, cơ thể cũng dễ bị thương.

Ra bên ngoài phần nhiều không được thuận lợi, làm cho cha mẹ lo lắng.

Gia đình của người phối ngẫu nhiều thị phi.

Tóm lại, Cung Thiên Di biểu thị không gian hoạt động bên ngoài của mỗi người. Nếu mưu cầu tha phương lập nghiệp. Nhất định phải xem xét kỹ Cung Thiên Di và Tam Phương Tứ Chính của Nó. Điển Hình là Cung Phúc Đức và Cung Phu Thê. Cung Thiên Di thích nhất là hội được tam cát Khoa Quyền Lộc. Sợ nhất là gặp ác sát tinh, đặc biệt là Hóa Kỵ, gặp nó thì ra ngoài thị phi, hay chuốc bực vào người…

【#2】Tìm Hiểu Về Tả Quân Lê Văn Duyệt

TÌM HIỂU VỀ

Vào ngày 1/8 âm lịch hang năm, tại Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông – Bà Chiểu) đều có Hội Lăng, kỷ niệm ngày mất của ông.

Đức Tả quân Lê Văn Duyệt (tên chữ Hán: 黎文悅, 1764-1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trong đó có lần nhận mệnh tôn vua mới, và hai lần làm Tổng trấn Gia Định Thành.

Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại vàm Trà Lọt, làng Hòa Khánh, châu Định Viễn, dinh Long Hồ (nay thuộc xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Mộ Đức – Quảng Ngãi vào đây sinh sống. Sau khi ông Lê Văn Hiếu qua đời, cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ở tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng (nay thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang). Lê Văn Toại có tất cả 4 người con trai. Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả ông là người thấp bé, nhưng lại có sức mạnh hơn người, từng được coi là một trong “ngũ hổ tướng”.

Theo chúa Nguyễn, chống Tây Sơn

Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến Rạch Gầm, có ngụ tại nhà thân sinh của ông là Lê Văn Toại, nhân đó ông được Nguyễn Phúc Ánh tuyển dụng làm thái giám năm ông 17 tuổi. (có nghĩa quan thái Giám trong triều)

Theo Quốc triều sử toát yếu, thì trong trận đánh tại Đồng Văn, ông bị quân Tây Sơn bắt, nhưng sau đó trốn về được. Tháng 11AL năm 1784, ông gặp lại Nguyễn Phúc Ánh, rồi gắn bó chặt chẽ với vị chúa này, trong đó có hai lần ông hộ giá sang XIêm (Thái Lan).

Tháng 11AL năm 1793, cho Lê Văn Duyệt làm chức Thuộc nội Vệ úy, vì “tuy sinh ra là người giám, (nhưng là) người mạnh dữ mà đánh giỏi, có công tùng chinh”. Kể từ đó, chúa Nguyễn thường bàn việc binh với Lê Văn Duyệt.

Tháng 11AL năm 1800, ông được cử theo Tiết chế Nguyễn Văn Thành. Hai ông hợp quân đánh thắng một trận lớn, nhưng sau đó nảy sinh hiềm khích. Tháng Giêng AL năm 1801, Lê Văn Duyệt cùng chúa Nguyễn và các tướng là Nguyễn Văn Trương, Võ Di Nguy, Tống Phước Lương đánh chiếm cửa biển Thị Nại năm 1801. Khi lâm trận, tướng Võ Di Nguy bị trúng đạn chết, ông Duyệt càng gắng sức đánh, đốt phá gần hết binh thuyền Tây Sơn. Trận ấy được khen là “Võ công đệ nhất”.

Tháng 4 AL cùng năm, ông theo chúa Nguyễn ra đánh Phú Xuân – Huế. Tháng sau, đại binh vào cửa Tư Hiền, ông và Lê Chất phá được đồn quân Tây Sơn ở núi Quy Sơn (tức núi Linh Thái), bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Trị và đô đốc Phan Văn Sách. Đến ngày 3/5 (tức ngày 15/6/1801), ông cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến vào nội thành Phú Xuân sau khi đánh tan đội thủy quân của nhà Tây Sơn, khiến vua Cảnh Thịnh phải tháo chạy ra Bắc.

Sau đó, chúa Nguyễn sai Tiết chế Lê Văn Duyệt (có Lê Chất đi theo) đem quân bộ vào Quảng Nam, Tống Viết Phúc đem quân thủy, chia đường vào cứu thành Bình Định. Dọc đường, Lê Văn Duyệt đánh thắng nhiều trận, nhưng không kịp cứu Quận công Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tùng Châu. Vì lương hết, hai ông đều đã tuẫn tiết vào cuối tháng 5 AL năm 1801. Xét công, chúa Nguyễn phong Lê Văn Duyệt làm “Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận công”. Lại cho Lê Chất làm tướng dưới quyền, để cùng mang quân đi thu phục các nơi.

Ngày mồng 1 tháng 5 năm Nhâm Tuất (31/5/1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi tại Phú Xuân, đặt niên hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được phong làm “Khâm sai Chưởng Tả quân dinh Bình tây tướng quân, tước Quận công” để cùng với Lê Chất đem bộ binh ra Bắc truy diệt vua quan nhà Tây Sơn. Theo phối hợp còn có binh thuyền do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Đến tháng 6 (âm lịch), thì quân bộ sang sông Linh Giang (tức song Gianh ở Quảng Bình) rồi hiệp với quân thủy đánh lấy Nghệ An, Thanh Hóa và Thăng Long. Đến lúc ấy, nhà Tây Sơn như bị diệt.

Tháng 2 ( âm lịch) năm 1813, nhận lệnh vua, Lê Văn Duyệt và Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh đem 13.000 quân thủy đưa Nặc Chân về nước Chân Lạp ( Campuchia ngày nay). Tại đây, ông thấy quân Xiêm cứ dòm ngó Chân Lạp, bèn xin vua Gia Long cho đắp thành Nam Vang cho vua nước này ở (trước đó ở thành La Bích), đắp thành Lô Yêm để trữ lương, đồng thời lưu binh ở lại bảo hộ ( Nguyễn Văn Thoại được cử ở lại). Tất cả đều được vua nghe theo.

Năm 1816, Lê Văn Duyệt được chỉ triệu về kinh để bàn nghị về ngôi Thái tử. Khi ấy, Nguyễn Huỳnh Đức thay ông làm Tổng trấn, và Trịnh Hoài Đức làm Hiệp trấn. Tháng 4 (âm lịch) năm đó, nhà vua ra lệnh thâu ấn của Nguyễn Văn Thành, giam Nguyễn Văn Tuyên (con ông Thành) vào ngục, vì ông Tuyên có làm một bài thơ bị Lê Văn Duyệt (vốn có hiềm khích với ông Thành từ trước) cho là có ý mưu phản.

Sang tháng 5 ( âm lịch), dân thiểu số ở Vách Đá lại nổi dậy, Trấn thủ Phan Tấn Hoàng đánh bị thua. Vua Gia Long lại phải sai Lê Văn Duyệt đem quân tới đàn áp.

Tháng Giêng ( âm lịch) năm 1819, Lê Văn Duyệt nhận mệnh đi kinh lược các vùng: Thanh Hóa, Nghệ An và Thanh Bình (nay đổi là Ninh Bình). Vì các nơi ấy thường mất mùa, sinh ra nhiều trộm cướp, quan sở tại không kiềm chế được. Đến nơi, ông dâng sớ về triều “nói việc khổ của dân, xin tha thuế cho dân, lại phải lựa quan trấn để an tập dân”, được vua y cho. Ở Thanh Hóa, ông nhận Lê Văn Khôi làm con nuôi. Ông Khôi nguyên là người ở Cao Bằng, vì khởi binh chống Nguyễn, bị quan quân đuổi đánh, phải chạy vào Thanh Hóa, gặp ông Duyệt đang làm Kinh lược ở đấy, bèn xin ra đầu thú.

Cũng trong năm này, theo Vũ Man tạp lục của tướng Nguyễn Tấn và Viêm Giao trưng cổ ký của Cao Xuân Dục, thuận theo lời tâu của Lê Văn Duyệt, nhà vua cho xây Trường lũy (Tĩnh Man trường lũy), dài xấp xỉ 200 km, bắt đầu từ huyện Trà Bồng ( Quảng Ngãi) đến huyện An Lão ( Bình Định), để phòng ngự các cuộc nổi dậy của người thiểu số ở đây.

Dưới triều Minh Mạng

Lúc bấy giờ, ở nước Chân Lạp có thầy tu tên Kế vận động dân nổi dậy, cướp phá nhiều nơi thuộc trấn Phiên An. Quan trấn là Đào Văn Lý cản ngăn không được. Khi ông Duyệt đến, bèn cử Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý đem quân đi đánh, đuổi quân Sư Kế chay về Chân Lạp. Tháng 9 ( âm lịch) năm ấy, Sư Kế xua quân vây hãm thành Nam Vang, làm vua nước ấy phải đưa thư sang cáo cấp. Xem thư, Tổng trấn Lê Văn Duyệt liền sai Thống chế Nguyễn Văn Trí đem quân sang cứu viện, đến tháng 10 ( âm lịch) thì giết được Sư Kế và đánh tan quân nổi dậy.

Cũng vào tháng 9 ( âm lịch) năm đó, Phó tổng trấn Huỳnh Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc ấy tâu lên. Sau khi tra án, Huỳnh Công Lý bị khép vào vào tội chết ( 1821).

Tháng 8 ( âm lịch) năm 1823, Lê Văn Duyệt về kinh chầu, Phó tổng trấn là Huỳnh Văn Năng coi thay. Sau đó, ông về ở luôn Gia Định cho đến chết.

Tháng 11 ( âm lịch), Thị đốc học sĩ Trần Văn Tuân bị án giảo giam hậu, vì lời tâu của ông Duyệt. Trước đây, ông Tuân đi công cán ở Chân Lạp, được người Chân Lạp tin yêu; đến khi về lại Gia Định, người Chân Lạp vẫn thường qua lại đưa đồ và hỏi thăm. Sau, nhân bắt được lá thư của vua Chân Lạp gửi cho ông Tuân, Lê Văn Duyệt bèn đem việc ấy chiểu theo luật “Giao thông ngoại cảnh” (tức luật ngoại giao với nước ngoài) mà tâu lên.

Đêm 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (tức 28 tháng 8 năm 1832), Chưởng tả quân lãnh Gia Định Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất tại chức, thọ 69 tuổi. Sau đó, triều đình truy tặng ông chức “Tá vận công thần đặc tấn Tráng võ tướng quân – Tả quân đô thống phủ chưởng phủ sự, Thái bảo quận công”, thụy là “Oai Nghị”.

Lược kể vụ án Lê Văn Duyệt

Đến khi Bạch Xuân Nguyên đến làm Bố chính ở Phiên An (tức tỉnh Gia Định), nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cứ, đồng thời trị tội các tôi tớ của ông Duyệt. Vì bị bức, con nuôi ông Duyệt là Lê Văn Khôi bèn khởi binh chống lại.

Nhận được tin cáo cấp, vua Minh Mạng liền sai quân đi đánh dẹp, đồng thời ban trách Lê Văn Duyệt đã “che chở quân phỉ đảng, để gây nên bọn loạn”. Tuy nhiên, theo một số tài liệu thì vua Minh Mạng vốn có thù hằn lâu ngày với Tả quân Lê Văn Duyệt, rất có thể vì :

– Lê Văn Duyệt nhiều lần lạm quyền, hoặc làm sai ý triều đình trung ương, đặc biệt là sau khi vua Gia Long qua đời.

– Lê Văn Duyệt ít học, bản chất quan võ nóng nảy, nói năng cộc lốc, chẳng biết chiều đón ý vua, khi tấu đối thường không vừa ý Minh Mạng.

– Ông Duyệt được hưởng quyền “nhập triều bất bái” (vào triều không phải lạy) từ thời Gia Long, nên sau này ông không lạy vua Minh Mạng. Điều này đã làm nhà vua khó chịu.

Dù không ưa nhưng vua Minh Mạng chưa thể làm gì Lê Văn Duyệt, vì công lao và uy quyền của ông quá lớn. Cho nên sau khi triều đình dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi ( 1835), nhân Phan Bá Đạt ở Đô Sát Viện dâng sớ kể tội Tả quân, Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị xử. Đến khi nghị án xong, có bảy tội nên trảm (chém), hai tội nên giảo (thắt cổ), một tội phải sung quân.

Án đệ lên, sau đó, vua Minh Mạng ra dụ có đoạn rằng :

Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bửa quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả, chẳng cần gia hình chi cho uổng công. Vậy cho tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn cuốc bỏ núm mộ san bằng mặt đất và khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ : “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ này là nơi quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp)

Sau đó, lệnh được thực hiện theo như lời dụ. Ngoài ra, mộ cha mẹ ông ở Long Hưng (nay thuộc Châu Thành, Tiền Giang) cũng bị đục bỏ tước hiệu khắc trên bia.

Không chỉ có tài quân sự, Lê Văn Duyệt còn là một nhà chính trị. Làm Tổng trấn Gia Định Thành hai lần (lần 1: 1812- 1816, lần 2: 1820 – 1832), ông đã thực hiện chính sách trị an tốt, và có công lớn trong việc giữ gìn an ninh cho xứ sở. Ông cho đắp đường, đào kênh, củng cố thành lũy, lập hai cơ quan từ thiện là “Anh hài” và Giáo dưỡng… Đồng thời ông cũng có cách ứng xử khéo léo, rộng rãi đối với những người phương Tây đến buôn bán ở Sài Gòn. Bấy giờ, nhiều người kính phục, gọi ông là “Ông Lớn Thượng”, hay ” Đức Thượng Công”… Một vài nước lân cận cũng tỏ ra kiêng nể ông.

Năm Tân Sửu ( 1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, ban lệnh tha tội các thân thuộc của Lê Chất và Lê Văn Duyệt.

Tháng 2 ( âm lịch) năm đầu Tự Đức ( 1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin lục dụng những con cháu của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất. Lời tâu làm vua cảm động, bèn cho con cháu ông Thành làm Chánh đội. Tuy nhiên, mãi đến năm tháng 4 ( âm lịch) năm 1868, nhà vua mới chính thức ban lệnh truy phục chức hàm cho Nguyễn văn Thành (là Chưởng trung quân Đại tướng quân Quận công) và Lê Văn Duyệt (là Chưởng tả quân Đại tướng quân), đồng thời cho thờ trong miếu Trung hưng công thần ở Huế.

Lê Văn Duyệt là người ái nam ái nữ bẩm sinh chứ không phải tự hoạn để làm thái giám. Thuở trẻ, ông thích đá gà, nuôi gà chọi. Ngoài ra, ông cũng là người sành thưởng thức hát bội và thường tự tay cầm chầu.

Sau này, do ông lập được nhiều công lao, khi lên ngôi, vua Gia Long đã gả một người cung nhân tên là Đỗ Thị Phẫn (hay Phấn) về làm vợ ông, dù ông là người yêm hoạn.

Với oan án Tống Thị Quyên : Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, Quyển 2) chép : Năm Minh Mạng thứ năm ( 1824), có người bí mật tố cáo rằng Mỹ Đường thông dâm với mẹ ruột là Tống thị (Quyên). Tống thị vì thế thị dìm nước cho chết, còn Mỹ Đường thì phải giao trả hết ấn tín và dây thao, đồng thời bị giáng xuống làm thứ dân, con trai con gái chỉ được biên chép phụ ở phía sau sổ tôn thất…”

Ngôi mộ của Tả Quân : Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách Gia Định xưa cho biết : “Theo lời các cố lão, ngôi mộ tại Gia Định – Bình Hòa xã là ngôi mộ chôn bằng hình sáp, còn hài cốt thật thì về an táng tại làng Long Hưng, thuộc tỉnh Định Tường. (Tiền Giang ngày nay)”. Tuy nhiên, tháng 4 năm 2006, sau một cuộc khảo sát ông Lý Việt Dũng đã đưa ra kết quả ngược lại.

Vinh danh : Ngày 4 tháng 2 năm 2008, tượng Tả quân Lê Văn Duyệt đã được đặt trang trọng tại điện thờ ông tại Lăng Ông Bà Chiểu (số 1, Vũ Tùng, quận Bình Thạnh. Tượng được đúc bằng đồng nguyên chất, cao 2,65 m, nặng 3 tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện. Đây là ý tưởng của tạp chí Xưa & nayHội Khoa học lịch sử Việt Nam trong chương trình Đúc tượng đồng cho lăng Ông

【#3】Bài Vị Cúng Sao Thái Bạch Và Văn Khấn Cúng Giải Hạn

Mẫu bài vị cúng sao Thái Bạch đúng nhất và hướng dẫn cách chuẩn bị các món lễ vật cúng sao Thái Bạch để giảm trừ những hạn ách do hung tinh này mang đến.

Với mong muốn giúp cho các bạn có thể chuẩn bị tốt và đúng nhất cho việc cúng giải hạn sao Thái Bạch. Đồ Cúng Tâm Linh gửi đến 2 mẫu bài vị cúng sao Thái Bạch gồm bản chữ nho và một bản chữ quốc ngữ để các bạn có thể in ra giấy. Cùng với đó là danh sách những món lễ vật quan trọng nhất cần phải có khi làm lễ cúng sao Thái Bạch hàng tháng.

Mẫu bài vị cúng sao Thái Bạch đúng chuẩn nhất

Mẫu bài vị cúng sao Thái Bạch kiểu chữ quốc ngữ

Mẫu bài vị cúng sao Thái Bạch kiểu chữ nho

Những món lễ vật cúng sao Thái Bạch bạn cần phải có

Những món lễ vật cúng sao hạn Thái Bạch phải là màu TRẮNG, với các món lễ vật có màu khác có thể sử dụng giấy TRẮNG để bọc lại gồm có:

  • 8 ngọn đèn hay nến.
  • Bài vị màu trắng của sao Thái Bạch
  • Gạo và muối
  • Trầu cau
  • Hương hoa, trái cây, phẩm oản
  • Chai nước
  • Mũ trắng
  • Đinh tiền vàng

Sao Thái Bạch là sao gì?

Sao Thái Bạch: (Kim Tinh) sao hạn này xấu cần phải giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, có thể gây trắng tay, đề phòng quan sự. Xấu nhất là những tháng 2, 5, 8 âm lịch và kỵ màu trắng quanh năm. Người quyền quý gặp được sao này có lợi, thêm đinh thêm khẩu. Kết hôn cẩn thận bệnh ở phần bụng. Vì sao hạn Thái Bạch ảnh hưởng không tốt đến người mang hạn. Nên tốt nhất là cần làm lễ cúng sao giải hạn sao Thái Bạch nhằm giải trừ vận hạn.

Cũng như những sao khác trong hệ thống Cửu diệu, sao Thái Bạch tuần hoàn 9 năm lại quay trở lại đối với 1 tuổi.

Sao Thái Bạch thuộc hành Kim, là 1 hung tinh gây ra hao tốn tiền bạc rất lớn. Hàng năm, cứ bước sang một năm mới, nhiều người xem năm hạn bằng hệ thống cửu diệu niên hạn, khi gặp phải sao Thái Bạch ai nấy cũng có tâm lý lo lắng, hoang mang.

Sao Thái Bạch là 1 trong những vị sao xấu nhất trong số 9 vị sao chiếu mệnh của con người. Người có Sao Thái Bạch chiếu mệnh sẽ gặp hạn rất nặng, hao tài tốn của. Thế nhưng cũng có những người gặp Thái Bạch lại gặp được điều tốt lành, phúc đức.

Sao này rất hung tợn, hạn nặng hơn so với các sao La Hầu. Bởi Thái Bạch thuộc Hành Kim, do đó những người mệnh Kim, Mộc hay Hỏa thì đều là đại kỵ. Biết bao người công việc làm ăn kinh doanh gặp trắc trở, công danh lụi tàn, sức khỏe suy kiệt, vào tù ra tội cũng do bởi sao này chiếu mệnh.

Nói chung, để giảm bớt những vận hạn do sao này chiếu mệnh. Các bạn cần phải cúng giải hạn sao Thái Bạch vào mỗi tháng.

Tuổi sao Thái Bạch

Đối với nam vào những năm: 4, 13, 22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94 tuổi là gặp phải sao Thái Bạch

Đối với nữ vào những năm: 8, 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 80, 89, 98 tuổi là gặp phải sao Thái Bạch

Sang năm Tân Sửu 2021 những người sinh năm say đây sẽ gặp phải sao Thái Bạch chiếu mạng:

Nam mạng: 2009 (Kỷ Sửu), 2000 (Canh Thìn), 1991 (Tân Mùi), 1982 (Nhâm Tuất), 1973 (Quý Sửu), 1964 (Giáp Thìn), 1955 (Ất Mùi), 1946 (Bính Tuất).

Nữ mạng: 2005 (Ất Dậu), 1996 (Bính Tý), 1987 (Đinh Mão), 1978 (Mậu Ngọ), 1969 (Kỷ Dậu), 1960 (Canh Tý), 1951 (Tân Mão).

Sao Thái Bạch là sao tốt hay xấu?

Sao Thái Bạch là 1 trong hung tinh mạnh nhất trong hệ thống cửu diệu niên hạn. Sao Thái Bạch thuộc Hành Kim, sao hạn này xấu nên cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, có thể gây trắng tay, đề phòng quan sự, rắc rối với luật pháp, dễ mắc các bệnh về nội tạng. Xấu nhất là vào tháng 2, 5, 8 âm lịch và kỵ màu trắng quanh năm.

Người quyền quý gặp phải sao này có lợi, thêm đinh thêm khẩu. Kết hôn cẩn thận bệnh phần bụng.

Vì sao hạn Thái Bạch ảnh hưởng không tốt đến người mang hạn nên tốt nhất là cần làm lễ cúng sao giải hạn sao Thái Bạch nhằm giải trừ vận hạn.

Trong dân gian có thói quen, mỗi khi gặp phải chuyện không may lại than thở rằng “năm nay gặp sao Thái Bạch”. Hay để chê một người nào đó hoặc gặp ai đó không vừa ý cũng nói họ là “người sao Thái Bạch”.

Hạn sao Thái Bạch

Hao tiền tốn của: “Sao Thái Bạch quét sạch nhà cửa” nghe đến đã thấy lo sợ và hoang mang. Thông thường với những người bị loại sao này chiếu mệnh năm đó làm ăn không phát chịu nhiều thua lỗ, hao tài tốn của vào những điều không nên. Nhiều người bị năng dẫn đến phá sản, gây nợ nần chồng chất.

Vấn đề sức khỏe: Những tuổi gặp sao hạn Thái Bạch cần phải đặc biệt chú ý đến sức khỏe. Đây sẽ là năm sức khỏe suy giảm, phải dùng nhiều thuốc thang, ở viện nhiều hơn ở nhà. Dễ mắc những bệnh về nội tạng, hô hấp, xương khớp. Ngoài ra việc đi lại cũng cần phải cẩn thận, sao Thái Bạch chiếu rất dễ bị gặp tai nạn giao thông nặng nên cần hạn chế đi xa.

Quan tụng: Đây là sao chiếu dễ gặp tiểu nhân, và bị tiểu nhân quấy phá, bị kẻ xấu hãm hại, gặp rắc rối về pháp luật. Nhiều người hạn nặng còn vào tù ra tội. Có thể thấy tuổi gặp sao hạn Thái Âm gặp khó khăn trong mọi đường, cần phải thận trọng trong các hành động có như thế mới giảm được mức độ hạn của sao chiếu mệnh.

Hướng dẫn làm lễ cúng giải hạn sao Thái Bạch

Gặp sao này vào ngày 15 dùng Thủy tiết như đeo trang sức đá quý là đá núi lửa, hay thạch anh đen…

Vào tối 15 âm lịch hàng tháng, bố trí ban thờ về hướng chính Tây, trên bàn thờ đặt 8 ngọn đèn (nến) để theo các vị trí hướng sao hiện.

Bài vị: Dùng sớ viết trên tờ giấy màu trắng: Tây Phương Canh Tân Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân Vị Tiền”

Dùng 1 cây rìu (nếu có) chặn ở phía trên. Lấy vải đỏ che kín bùa và rìu. Nhớ đặt đồ này đằng sau 3 nén hương đã dâng. Sau đó, mặt hướng về phía Chính Tây thiền (tĩnh tọa).

Bài văn khấn cúng sao giải hạn Sao Thái Bạch

Nam Mô A Di Đà Phật ! (3 lần)

  • Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
  • Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế
  • Con kính lạy Đức Trung Thiên tinh chúa Bắc cực Tử vi Tràng Sinh Đại đế
  • Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân
  • Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân
  • Con kính lạy Đức Tây phương Canh Tân Kim đức Thái Bạch Tinh quân
  • Con hình lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân

Tín chủ (chúng) con tên là:………(đọc đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh)

Hôm nay là ngày……… tháng……… năm………, tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương, thiết lập linh án tại (đọc địa chỉ nơi cúng)……… để làm lễ cung nghênh và giải hạn sao Thái Bạch chiếu mệnh.

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc, lộc, thọ cho chúng con gặp sự an lành, tránh mọi điều dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam Mô A Di Đà Phật ! (3 lần)

Phục duy cẩn cáo!

Lễ xong chờ hết tuần hương thì hoá sớ, bài vị cùng tiền vàng rồi vẩy rượu lên. Rồi lấy muối gạo rắc bốn phương tám hướng.

【#4】Sống Tại Chung Cư, Cúng Giao Thừa, Hoá Vàng Ở Đâu Để Không Mất Lộc?

Cúng giao thừa ở đâu, hoá vàng như thế nào để không bị mất lộc là câu hỏi mà nhiều người đang sinh sống tại chung cư lo lắng.

Cúng giao thừa ở đâu?

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Giáo dục – Liên hiệp hội KHKT Việt Nam (VNUSTA), thông thường, với nhà mặt đất thì việc cúng bái thuận lợi vì có không gian, chủ nhà có thể cúng ở sân thượng hoặc ở sân của căn nhà.

Nhưng do đất nhà ở dần ít đi, cư dân đông đúc nên các gia đình phải chọn sinh sống tại các toà chung cư hàng chục tầng. Từ đó cũng bắt đầu phát sinh những bài toán về việc cúng tế cũng như việc xem phong thuỷ cho căn hộ.

Để tạm giải quyết những vấn đề này, người dân sống tại chung cư có thể sử dụng ban công, tầng thượng hoặc sân chung cư là nơi để cúng giao thừa hay những việc cần phải cúng ngoài trời.

“Nhà mặt đất thì phân biệt hướng và tọa rất dễ. Còn để xem hướng cho nhà chung cư thì có đến 12 phương án. Để giải quyết nhu cầu cúng bái ngoài trời như cúng giao thừa, theo tôi nếu căn hộ đó có ban công thì có thể sử dụng. Việc cúng giao thừa có ý nghĩa là chiêu khí tốt, đón dương khí đầu năm, cầu những điều tốt nên cần thực hiện ngoài trời.

Trường hợp nếu căn hộ không có ban công riêng thì có thể cúng ở tầng thượng, dưới sân chung cư, khu vực hoá vàng mã. Nhưng cũng cần lưu ý là bất kể cúng gì đi chăng nữa thì chủ nhà cũng cần phải đọc rõ địa chỉ, số căn hộ, tên tuổi người cúng… có như vậy thì không sợ bị mất lộc”, Tiến sĩ Vịnh giải thích.

Hoá vàng mã ở đâu để không mất lộc?

Còn theo quan điểm của Nhà nghiên cứu phong thuỷ, Kiến trúc sư Phạm Cương tục đốt vàng mã đã tồn tại trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt từ lâu đời. Với quan niệm “trần sao âm vậy” nên người sống cũng cố gắng làm tất cả bằng tấm lòng của mình với người đã khuất bằng cách đốt tiền vàng. Đây cũng là cách để họ tin rằng người thân khi chết đi sẽ được hưởng cuộc sống đầy đủ.

Tuy nhiên đốt vàng mã cần phải đúng cách. Số lượng vàng mã chỉ nên mang tính tượng trưng, không phô trương và đốt đúng nơi, đúng chỗ mới thể hiện được cái tâm của người trần với người đã khuất.

“Đối với nhà mặt phố không nên đốt ngoài đường khói và tro bụi ảnh hưởng đến người đi đường. Nhà chung cư không nên hóa vàng mã ở ban công hoặc các không gian chung như hành lang, sân thượng vừa ảnh hưởng đến hàng xóm vừa không đảm bảo về phòng cháy.

Theo quan niệm của Phât giáo: tâm xuất thì Phật biết. Nếu đã có lò đốt vàng mã chung của cả khu thì nên hóa đúng nơi quy định thì người đã khuất vẫn chứng được cho tấm lòng của người thân mà không sợ mất lộc đi đâu cả”, Nhà nghiên cứu phong thuỷ Kiến trúc sư Phạm Cương khẳng định.

Theo Minh Trang (Khám phá)

【#5】Lễ Cúng Giao Thừa (Trừ Tịch) Là Gì, Cúng Thế Nào Cho Đúng?

(Thethaovanhoa.vn) – Cúng giao thừa (Trừ tịch) 2021 trong nhà hay ngoài trời trước? Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ trừ tịch không phải ai cũng biết.

Lễ tất niên thường được thực hiện vào ngày 30 tháng Chạp, là dịp gia đình tề tựu, tạm gác mọi lo toan, bộn bề để dùng chung bữa cơm cuối năm và cũng là để con cháu mời tổ tiên về ăn Tết cùng gia đình.

Nhiều người trẻ hiện nay vẫn không biết lễ cúng giao thừa (hay còn gọi là Trừ tịch). Bài viết này sẽ giải thích phong tục của lễ cúng giao thừa.

Lễ Trừ tịch (giao thừa) là gì?

Lễ Trừ tịch còn gọi là lễ để khử trừ ma quỷ. Lễ Trừ tịch được cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ Giao thừa.

Lễ Trừ tịch được cử hành vào giờ tý – từ 23 giờ đến 1 giờ sáng, khoảnh khắc một giờ của năm cũ và một giờ của năm mới.

Người xưa cho rằng có mười hai vị Hành khiển, Phán quan nhà trời tượng trưng cho 12 con giáp từ năm Tí – con chuột đến năm Hợi – con heo, luân phiên trông coi việc dưới hạ giới. Cứ sau mỗi chu kỳ 12 năm lại quay trở về vị Hành khiển đầu tiên.

Các quan nhà trời đều có ông Thiện và ông Ác. Ông Thiện chuyên phù hộ những điều tốt đẹp cho con người, còn ông Ác gây ra hạn hán, lụt lội, mất mùa, đói kém.

Việc lành hay việc dữ là do sớ tấu của các quan Hành khiển, Ngọc hoàng dựa trên sớ tấu đó mà ban phúc hay trừng phạt con người.

Với quan niệm như thế, người xưa làm lễ rất cẩn trọng. Đúng lúc nửa đêm, quan cũ giao lại công việc, quan mới tiếp nhận. Vào thời điểm này, mọi gia đình đều bày cỗ ra ngoài trời để cúng hai đoàn các quan.

Ngày xưa, thậm chí các vị chức sắc ở thôn, xã cũng phải thiết lập hương án chào lạy các quan trời ở nơi trung thiên, ở sân đình, ở văn chỉ, vàng hương, trầu, rượu, hoa quả, xôi gà; tế lễ trọng thể với trống chiêng vang dậy đêm khuya.

Ngày nay, nhiều người không thật hiểu ý nghĩa của lễ Trừ tịch. Một số cách hiểu cho rằng cúng ngoài trời lúc giao thừa là cúng chúng sinh. Theo đó, khi gia tiên được ăn cỗ trong nhà thì ở ngoài chúng sinh, ma đói không biết ăn tết ở đâu. Do vậy muốn được yên ổn cả năm mới thì nhất thiết phải có mâm cỗ cúng chúng sinh.

Dù vậy, phong tục cổ truyền này vẫn mang ý nghĩa triết học và nhân văn cao đẹp. Hiểu là lễ các quan nhà trời hay lễ chúng sinh đều được, điều cốt yếu là con người ngày thường cư xử phải đạo, không hổ thẹn với các thế lực tâm linh.

Cúng lễ Trừ tịch thế nào?

Theo tục lệ cổ truyền thì Giao thừa được tổ chức nhằm đón các Thiên binh – tức 12 vị Hành khiển. Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Đây được gọi là lễ cúng Giao thừa ngoài trời.

Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm các chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu hoặc nước và vàng mã. Đôi khi có thêm chiếc mũ của Đại Vương hành khiển. Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc.

Sau khi cúng Giao thừa xong, các gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái) để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết nên được gọi là Lễ cúng giao thừa trong nhà.

Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất. Sau khi cúng xong, xem như Tết thực sự đã đến với gia đình.

Ngoài lễ vật để đưa tiễn hoặc đón tiếp các vị Hành khiển thì do mỗi năm sẽ có một vị quan Đương niên cai quản, nên việc làm sớ tấu cũng như lễ vật cần phải chú ý khấn đúng danh vị của các vị Hành Khiển cùng các vị Phán quan, năm nào thì khấn danh vị của năm ấy.

Nam mô A Di Đà Phật (Ba lần ) . Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Đức đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật . – Hoàng Thiên hậu Thổ chư vị tôn Thần . – Ngài Cựu niên Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan – Ngài đương niên Triệu Vương Hành Khiển, Tam Thập lục thương hành binh chi thần, Khúc Tào phán – Ngài bản cảnh Thành Hoàng chư vị đại Vương . – Ngài bản xứ Thần linh Thổ địa. Ngài định Phúc Táo quân . Các ngày Địa Chúa Long mạch Tôn Thần và tất cả các Thần linh cai quản trong khu vực này . Nay là giờ phút Giao thừa năm Canh Tý Chúng con là :……………… Ngụ tại :…………………. Phút thiêng Giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, Tam Dương khai Thái, vạn tượng canh tân. Nay Ngài Thái tuế chí đức tôn Thần trên vâng lệnh Thượng Đế giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt . Quan cũ về Triều để khuyết, lưu Phúc, lưu Ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban Tài tiếp Lộc. Nhân buổi tân Xuân, chúng con thành tâm sửa biện hương hoa vật phẩm, nghi lễ cúng trần, dâng lên trước Án. Cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén Tâm hương dốc lòng bái thỉnh . Chúng con kính mời : Ngài Cựu niên đương cai Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn hành binh chi thần, Lý Tào phán quan, Ngài đương niên Triệu Vương Hành Khiển, Tam Thập lục thương hành binh chi thần, Khúc Tào phán quan. Ngài bản cảnh Thành Hoàng chư vị đại Vương . Ngài bản xứ Thần linh Thổ địa. Ngài định Phúc Táo quân. Ngài Phúc Đức chính Thần. Các Ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Long mạch tài Thần. Ngài Bản Gia Táo Quân. Các ngày Địa Chúa Long mạch Tôn Thần và tất cả các Thần linh cai quản trong khu vực này. Cúi xin giáng lâm trước Án, thụ hưởng lễ vật . Nguyện cho chúng con: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Độ cho chúng con mọi duyên thuận lợi, công việc hanh thông. Người người được chữ bình n , tháng ngày được hưởng phần lợi lộc. Âm phù – Dương trợ, sở nguyện tòng tâm. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Dãi tấm lòng thành, Cúi xin chứng giám. Văn khấn Giao thừa trong nhà – Nam mô A-di-đà Phật (3 lần) – Nam mô Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật – Nam mô Đông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật – Nam mô Đức Bồ-tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh – Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương – Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, Long Mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần – Các cụ tổ tiên nội ngoại chư vị tiên linh Nay phút Giao thừa năm cũ …….. với năm mới …………… Chúng con là :…………………sinh năm: …………., hành canh: ………… tuổi ( ví dụ: 75 tuổi ), ngụ tại số nhà ………, ấp/khu phố ……….., xã/phường………., quận/huyện/thành phố ………, tỉnh/thành phố….. Phút Giao thừa vừa điểm, nay theo vận luật, tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu xuân, đón mừng Nguyên đán, tín chủ chúng con thành tâm, tu biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dàng Phật- Thánh, dâng hiến tôn Thần, tiến cúng Tổ tiên, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh. Chúng con kính mời: Ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa, Hỷ Thần, Phúc đức chính Thần, ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch Tài Thần, các ngài bản gia Táo phủ Thần quân và chư vị Thần linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án, thụ hưởng lễ vật. Con lại kính mời các cụ tiên linh, Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, Bá thúc đệ huynh, Cô dì tỷ muội, nội ngoại gia tộc, chư vị hương linh, cúi xin giáng phó linh sàng thụ hưởng lễ vật. Tín chủ lại kính mời các vị vong linh tiền chủ, hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong đất này, nhân tiết Giao thừa, giáng lâm trước án, chiêm ngưỡng tân xuân, thụ hưởng lễ vật. Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự cát tường, bốn mùa được bình an, gia đạo hưng long, thịnh vượng. Tâm thành cầu nguyện, lễ bạc tiến dâng, cúi xin chứng giám. Nam mô A-di-đà Phật (3 lần, 3 lạy)

【#6】Cách Đặt Gà Cúng Trong Đêm Giao Thừa Tránh Khỏi Cấm Kỵ Không Phải Ai Cũng Biết

Năm Dậu – năm con gà liệu cúng gà vào đêm giao thừa như phong tục các năm liệu có cấm kị? Đó là câu hỏi thắc mắc của nhiều người.

Có một dũng sĩ đã dùng cung tên bắt rụng 9 mặt trời, và 1 mặt trời còn lại sợ quá nên trốn biệt đi rất cao và xa, không chiếu sáng nữa. Con người và loài vật trên mặt đất tối tăm bèn rủ nhau đi gọi mặt trời nhưng cuối cùng chỉ mỗi con gà trống gáy vang khiến mặt trời tò mò hạ xuống, quên đi sợ hãi và chiếu sáng trở lại.

Đêm Giao thừa được coi là đêm tối nhất bởi đó là lúc mặt trời ẩn nấp sâu nhất. Do đó dân gian bảo nhau cúng gà trống với mục đích gà sẽ đánh thức mặt trời, chiếu sáng trở lại cho thế gian, đem lại mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ cho mọi nhà.

Đó chính là câu chuyện mang ý nghĩa văn hóa lâu đời về việc lựa chọn con gà làm đồ lễ cúng. Có thể nói con gà là biểu tượng của nền văn hoá đi liền với tín ngưỡng tôn sùng mặt trời của nền nông nghiệp lúa nước.

2. Năm Dậu cúng gà được không?

Ngày nay, nền kinh tế đã thay đổi, nhiều tư duy quan niệm về văn hóa lối sống cũng có nhiều khác biệt so với xưa. Và mặc dù nhiều nơi có thể đã thay gà bằng chân giò hay khổ thịt lợn vuông vức hay những đồ lễ khác nhưng thói quen chọn gà làm đồ lễ cúng vẫn rất phổ biến trong dân gian.

Tuy nhiên không nhiều người hiểu rõ về ý nghĩa văn hóa của việc chọn gà làm đồ cúng, nhất là đêm Giao thừa. Chính vì thế mới nảy sinh câu hỏi rằng năm Dậu cúng gà có được không. Suy diễn hơn, có người còn cho rằng năm Tỵ, năm con rắn thì không cúng gà vì rắn vồ gà…

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì đó là những suy diễn tư biện so với nghi lễ xưa. Cúng gà là một nét đẹp văn hóa và không có chuyện kiêng năm gà thì không cúng gà. Ngoài ra những thứ cúng thay thế gà như thịt lợn, chân giò thì chỉ đơn thuần là đồ lễ cúng chứ không mang ý nghĩa văn hóa. Do đó bạn hoàn toàn có thể yên tâm năm Dậu cúng gà mà không phải “kiêng kỵ” điều gì.

3. Tiêu chuẩn chọn gà cúng Giao thừa

Đêm giao thừa (trừ tịch) là đêm trời đất tối tăm nhất, người ta bảo đó là lúc mặt trời ẩn mình sâu nhất. Nhà nhà bảo nhau cúng một con gà trống với hi vọng, chú gà sẽ đánh thức mặt trời, chiếu sáng cho đủ đầy ánh nắng cả năm, mang lại “mưa thuận gió hoà” của cư dân nông nghiệp.

Sở dĩ chọn gà trống chứ không phải gà mái để làm đồ lễ cúng vì gà trống được xem là hội tụ đủ 5 đức tính mà một người đàn ông cần có. Đó là văn, võ, dũng, nhân, tín. Việc cúng gà trống cũng là cầu mong con cháu được hưởng những đức tính ấy.

– Văn ở đây hiểu là: gà trống có mào trên đỉnh đầu cùng hai cái mào ở dưới, giống như chiếc mũ cánh chuồn của ngài tiến sĩ xưa, biểu tượng cho văn.

– Võ: gà có cựa như thứ vũ khí, biểu tượng cho võ.

– Dũng: gà trống luôn sẵn sàng đánh nhau để bảo vệ đàn của mình, biểu tượng cho dũng.

– Nhân: gà trống đầu đàn khi được cho ăn thì luôn gọi cả đàn đến chứ không ăn một mình, biểu tượng cho nhân.

– Tín: gà trống luôn cất tiếng gáy đúng canh giờ, biểu tượng cho tín.

Gà trống được xem là hội tụ đủ 5 đức tính mà một người đàn ông cần có. Đó là văn, võ, dũng, nhân, tín.

4. Cách đặt gà cúng trong đêm Giao thừa tránh khỏi cấm kị không phải ai cũng biết Đặt gà cúng Giao thừa như thế nào?

Khi chuẩn bị mâm cỗ giao thừa, bạn phải đặt gà cúng lên đĩa to, tháo dây buộc (nếu có), bầy ngay ngắn trên đĩa, tiết lòng đặt dưới bụng gà, mỏ ngậm bông hoa hồng đỏ. Điều quan trọng nhất là phải đặt đầu gà quay ra đường để đón quan Hành khiển cai quan năm mới đi qua, cách đặt gà cúng như vậy còn có ý nghĩa gọi mặt trời chiếu vào nhà mình.

Cách đặt gà cúng trên ban thờ

Một số chuyên gia nghiên cứu cho rằng khi đặt gà cúng trên ban thờ nên quay đầu gà hướng về bát hương với tư thế được gọi là “con gà biết kêu, biết gáy, đang chầu” tức là há miệng, chân quỳ và cánh duỗi ra tự nhiên. Nếu làm theo cách nhiều gia đình làm có nghĩa có đầu gà hướng ra ngoài thì đó là gà không chịu chầu. Thực tế là gà quay đầu ra ngoài sẽ đẹp hơn khi quay đầu về bát hương và phao câu chổng ra ngoài nhưng cách đặt gà cúng như vậy chỉ đẹp mắt về hình thức chứ không đẹp về ý nghĩa tâm linh và sự thành kính.

Tóm lại, với mong ước về sự may mắn, an lành, tốt đẹp, việc chọn gà cúng đêm Giao thừa phải là gà trống hoa, gà chưa đạp mái và mới le te gáy. Điều này hàm ý về lễ vật tinh khiết để lời thỉnh cầu được linh nghiệm. Với những điều trình bày ở trên, năm Dậu cúng gà hoàn toàn là điều nên làm, vừa hợp với truyền thống văn hóa phong tục lâu đời của cha ông vừa thể hiện tấm lòng thành và mong ước tốt đẹp của gia đình bạn trong năm mới.

Theo PNN

【#7】Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên Và Những Điều Cấm Kỵ Trong Nhân Gian Cổ Đại Bài Cuối

Bài Cuối 越南道教道士 越南道士 NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ CHĂN NUÔI

Trồng dâu nuôi tằm là một điểm đặc sắc lớn trong kinh tế canh nông của người xưa từ xưa đến nay. Bắt đầu từ thời nhà Thương, người ta đã liệt thần Tằm vào đại điển tế tự. Dân gian cho rằng, tằm là một động vật cực kỳ nhõng nhẽo, lại rất thần thánh và có tính linh, nếu có chút chểnh mảng không cẩn trọng thì cũng khiến cho chúng bị tổn thương.

Trong “U phong quảng nghĩa”, người Thanh có viết: “Buồng tằm nhất thiết không được mở ra phía sau: vì tằm thuộc loại hóa khí, mùi thơm có thể làm tán khí, mùi hôi thối có thể làm kết khí, vì vậy, khi tằm ngửi thấy mùi thơm thì sẽ bị mềm nát, ngửi thấy mùi thối thì cứng lại. Phàm là những thứ có mùi thơm như xạ hương, đàn hương, linh lăng… và những vật có mùi hôi như hành, hẹ, tỏi, kiệu,… thì đều cấm không được mang vào buồng tằm. Kỵ gió Tây Nam, kỵ đốt đèn, đốt giấy trong buồng, kỵ thổi tắt khí của khói dầu, kỵ gõ vào những vật có thể phát ra tiếng kêu như cửa, cửa sổ, vành nong; kỵ để ánh đèn chiếu vào khe cửa sổ buồng tằm vào ban đêm; kỵ mang rượu giấm vào và cũng kỵ để người uống rượu vào trong buồng; kỵ chiên xào thịt; kỵ gió lạnh quét vào lúc nóng nực; kỵ giã đồ gần bên; kỵ kêu khóc trong buồng tằm, kỵ những lời ô uế dâm tà; dùng lửa lớn khi trời đang rét; kỵ bỏ dao vào trong nong; kỵ người không sạch sẽ bước vào buồng tằm; kỵ nước tràn xuống lửa; kỵ nướng những vật có mùi khét như xương, lông lợn; kỵ mở cửa sổ đón gió; kỵ tất cả những khí có mùi tanh; kỵ khí đá vôi bị nung; kỵ khí lưu huỳnh bị đốt, kỵ mở cửa một cách vội vã, kỵ ném thải những vật ra xa, kỵ những lá đẫm nước, kỵ những lá dâu đẫm sương lạnh hay những lá khô; kỵ nóng nực, hanh khô. Những điều kiêng kỵ trên đều cần phải chú ý đến, nếu không thì tằm sẽ không nằm yên trong nong, sẽ bò ra ngoài mà chết”. Từ đó có thể thấy rằng, các triều đại nhà Nguyên, Minh, Thanh, các cấm kỵ về việc nuôi tằm thì ngày càng nhiều và rõ ràng hơn. Lá dâu nuôi tằm cũng phải dùng kéo sắt để cắt, kỵ không được dùng tay hái. Mà khi dùng kéo cắt thì cũng phải đợi khi mặt trời mọc, hơi ẩm bốc hết thì mới được tiến hành cắt lấy, kỵ cắt lấy những lá dâu đẫm hơi nước và sương. Có những cấm kỵ về việc nuôi tằm, như người vùng Sơn Đông thì kỵ không động thổ buồng tằm khi đã xuất tằm; kỵ người già, sản phụ bước vào buồng tằm, kỵ ngủ trong buồng tằm, e rằng tằm cũng trở nên lười nhác không chịu nhả tơ làm kén.

Những hộ nuôi tằm ở vùng Triết Giang nếu thấy rắn bò vào buồng tằm thì kỵ không được hô hoán, đuổi đánh. Vì họ cho rằng Thanh Long giáng lâm, thì sẽ đem lại cái phúc cho nghề tằm, nên phải khấu bái, cúng chay, để nó tự đi.

Nuôi lợn cũng là một nghề phụ phổ biến rất được nông dân xem trọng, nó là một “con đường giàu sang”, “con đường tiền tài” của người nghèo. Rất nhiều những cấm kỵ trong nghề nuôi lợn cũng đã hình thành nên tập tục trong dân gian.

Xây hàng cột rào lợn cũng phải hết sức thận trọng, tục thời xưa còn mời cả thầy phong thủy đến để lựa chọn phương vị tránh sát khí, chọn ngày tốt để phá thổ động công, chiêu đãi thợ xây như chiêu đãi khách quý. Tục quy định, khi châm trà, dâng rượu, gắp thức ăn và tặng tiền cho thợ xây thì không được nói chuyện. Đặc biệt là, phong bì đựng tiền không được dán kín cả hai đầu, và phong bì cần phải để trên cột rào ở chuồng lợn mà không trực tiếp giao cho thợ. Khi thợ xây nhận phong bì đựng tiền thì cũng không được nói năng gì cả. Người ta cho rằng, làm như thế để làm yên hàng cột, khiến lợn mau lớn. Có nơi, khi làm xong nền hàng cột, khi mời thợ xây đến để làm hàng rào thì thợ cần phải ăn điểm tâm ngay ở hàng cột rào, không được từ chối, và phải ăn cho hết để tỏ ý là sau này lợn sẽ ăn hết bữa ăn. Nếu như thợ xây ăn không hết thì gia chủ sợ rằng, sau này lợn sẽ biếng ngủ biếng ăn, nên sẽ nhặt phần thức ăn còn lại ăn cho kỳ hết ngay tại hiện trường. Những người chủ nhà mà là người già thì cho rằng như thế đã phạm vào cấm kỵ, nên vội vàng chạy ra giành lấy phần thức ăn đó, đến nằm trong hàng cột mà ăn ngấu nghiến cho đến hết, sau khi ông ta đã ăn xong thì không ai được kéo ông ta dậy, vì cho rằng như thế, sau này lợn sẽ không những ham ăn mà còn tranh ăn, ăn xong rồi ngủ, ngủ rồi lại ăn, lớn rất nhanh. Do vậy, thợ xây hàng cột rào cho lợn cũng phải cẩn thận, có nơi còn phải phun nước thần trước khi khởi động công trình, khiến “thiên sát quy thiên, địa sát quy địa” (khí sát ở Trời thì về Trời, khí sát của Đất thì về Đất”. Có nơi còn vạch chữ “tỉnh” ( 井 ) lên nên đất để ép “sát khí”, để đảm bảo được bình an. Có nơi, người ta còn chú trọng đến vật liệu làm hàng cột rào, thường là chọn gỗ cây phong, tục cho rằng nếu dùng gỗ cây phong làm cột rào thì sẽ khiến cho lợn “phong xuy dạ trưởng” ( 風吹夜長 : qua đêm đã lớn như gió thổi). Khi đóng cọc rào, bất kỳ là ai cũng không được bước ngang qua hàng cột rào ấy, mà phải chui qua hàng cột với một thái độ cung kính rất mực, nếu không, sau này lợn cũng sẽ nhảy qua hàng cột rào, như thế thì không tốt.

Sau khi làm xong hàng cột rào mới mua lợn con về. Khi mua lợn con, cũng phải chọn lựa ngày lành. Tục cho rằng “ngày tai”, “ngày đuôi” đều là những ngày tốt, bảo là “tai đuôi thì lớn như gió thổi”; “ngày miệng”, “ngày lưỡi” mà mua lợn về là không tốt, bảo rằng “miệng lưỡi ắt phải chết”. Mua lợn phải lựa ngày tốt lành, thích ngày chẵn và kỵ ngày lẻ. Kỵ mua lợn có đầu quá lớn, tục cho rằng những con lợn như thế sẽ chậm lớn.

Những hộ nuôi lợn nái thường đều kỵ không giết lợn nái, người ta cũng thường kỵ ăn thịt lợn nái, cho rằng, thịt lợn nái có “độc”, ăn vào sẽ sinh bệnh. Ở một vài hộ, khi lợn nái đã già, thì mời thầy thiến lợn đến để thiến nái, đợi khi nuôi cho mạnh lên rồi mới được giết, tục gọi là “bà lợn già bị thiến một dao”.

Khi muốn ăn thịt lợn nuôi thì đợi đến lúc lợn mạnh khỏe mới giết. Trong dân gian, việc giết lợn cũng có nhiều cấm kỵ. Lưu hành nhất là giết lợn đầu năm năm. Giết lợn thì không được nói là “giết”, mà phải gọi là “xuất chuồng”. Xuất chuồng vào ngày sửu mới được xem là tốt, kỵ không giết vào ngày tý, để tránh sau này lợn nuôi chỉ bé bằng con chuột, mà chỉ mong cho nó lớn như con trâu vậy. Khi xuất chuồng, cần phải cúng tế “thần rào lợn”, và chúc nó kiếp này làm lợn, kiếp sau làm người, khi giết lợn đầu năm thì kỵ không có dây buộc, để lợn chạy qua nhà người. Vì có người tin rằng “lợn đến thì nghèo”, chủ nhà chỉ đành “treo vải đỏ”, đốt pháo để cáo lỗi, sau đó mới có thể dẫn lợn trở về. Khi xuống dao giết lợn, người đồ tể sẽ nói “xuất thế làm người”. Trẻ em và phụ nữ cấm không được nhìn. Có nơi, người phụ nữ nuôi lợn sẽ đứng ở cửa kêu lên “Lợn về đi!”, tỏ ý lợn không đi, mỗi năm đều có thể có lợn để giết thịt. Chủ nhà đều hy vọng là một nhát dao giết chết lợn đầu năm, ộc ra máu đỏ tươi và có lẫn bọt bóng, người ta bảo rằng, đó là điềm “huyết tài tốt”, nuôi lợn sẽ rất hưng thịnh, kỵ một nhát dao giết không chết lợn. Nếu giết một dao, máu ộc ra, lợn giãy giụa lăn xuống đất nhưng lại không chết, thậm chí còn chạy đi, thì cần phải giết thêm một nhát dao nữa; hoặc khi máu đỏ có sắc đen, bọt bóng không đỏ cũng không trắng; hoặc là khi cạo lông mà trong mõm lợn vẫn còn khí thở và có tiếng thở nhè nhẹ, người ta gọi đó là tiếng than thở của lợn, đều là những điềm không tốt, gia chủ lo sợ rằng, năm sau nuôi sẽ không được hưng thịnh, lại vừa lo rằng, nếu đó là lợn Linh Quan, thì không được giết. Khi giết thì cần phải “hóa thân” (hóa trang), dùng nhọ nồi, mực… để bôi lên mặt, lấy áo trùm lên đầu, và đội lên cái nón lá, lưng thì mặc áo tơi, chân thì mang giày, giết mạnh bằng một nhát dao rồi quay mình mà chạy đi. Cấm không được giết lợn Linh Quan ngay trong phòng, mà phải giết ở nơi góc đường. Máu của nó không được dùng để cúng thần, cũng không để người ăn, cứ để cho nó chảy đi. Sau khi giết chết rồi thì phải đợi ít nhất là nửa tiếng đồng hồ sau mới có thể khiêng về trong nhà.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ SĂN BẮN Săn bắn là một nghề mưu sinh có từ thời xa xưa, rất nhiều các tộc người của xưa đều có lịch sử săn bắn rất lâu dài. Trong nghề săn bắn cũng có rất nhiều tập tục cấm kỵ.

Trước khi đi săn, thợ săn phải tiến hành nghi thức tế tự, cúng hiến thần săn. Những người thợ săn còn tin rằng, dã thú có linh tính, vì vậy mà thường thì không dám gọi thẳng tên của chúng, mà phải gọi với một cái tên khác. Ví dụ, người ta gọi hổ là con “đại trùng”, là “thần”; còn gấu thì gọi là “lão gia”, “lão gia tử”… Họ còn tin rằng, dã thú có khả năng dự báo trước những sự việc, nếu thợ săn không tuân thủ nghiêm chỉnh những cấm kỵ nào đó thì dã thú có thể biết được phương hướng hành động của thợ săn mà chạy đi mất. Ví dụ như, người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc thì đều cấm kỵ việc nói cho người khác biết chuyện mình đi săn trước khi đi săn, cấm kỵ nói “chúng ta đi đặt bẫy”. Và càng cấm kỵ không nói cho người khác biết nơi chốn và phương hướng đi săn, ngay đến người trong nhà cũng không ngoại lệ.

Trong thời gian săn bắn, thợ săn người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không nhắn thư cho người nhà, và người nhà cũng không được nhắn đến, nếu không thì không có lợi cho việc săn bắn. Khi săn thú, cấm kỵ không được dùng cây gậy để vắt ngang lên trên đường đã đi qua, khi cần dùng gậy để là dấu hiệu thì cũng phải để thuận chiều. Người ta nói rằng, nếu để gậy ngang đường thì sẽ khiến cho việc săn bắn gặp nhiều trở ngại, không thuận lợi. Việc nhóm củi lửa khi săn cũng cấm kỵ để củi cháy sụp xuống, vì cho rằng củi lửa bị sụp sẽ làm động đến Sơn thần gia (Bạch Tra Na) khiến việc săn bắn không có hiệu quả. Củi dùng để nhóm lửa nên ngắn, kỵ dài, vì nếu củi nhóm mà dài thì số ngày đi săn cũng sẽ bị kéo dài ra. Trong thời gian săn bắn, người ta kiêng kỵ tất cả mọi tiếng động. Không được ca hát, nhảy múa hay nói chuyện lớn. Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân cấm không được huýt gió tùy tiện, vì người ta cho rằng, nếu làm như thế thì sẽ gây gió lớn; khi đi săn, người Ngạc Ôn Khắc cấm kỵ không được kéo động cái nồi lúc nấu cơm, khi bới cơm thì cũng không được cạo nồi gây ra tiếng vang. Khi gặp dã thú thì cũng không được chỉ trỏ, nói năng bừa bãi.

Khi đi săn, người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc còn kỵ giữa những người đi săn với nhau mà tạo nên sự mất đoàn kết, kỵ cãi nhau và đánh nhau khi ra đi săn, nếu không thì nhất định sẽ không gặp được con thú nào. Nếu có hai đoàn người đi săn gặp nhau thì phải hợp lại làm một, cùng nhau vây thú, và chia thú đồng đều cho nhau. Nhưng thời gian tối đa mà hai đoàn người đi săn này sáp nhập với nhau là một hoặc hai ngày, sau đó sẽ phân rẽ ra. Khi săn thú, nếu gặp dã thú thì không được tranh bắn thú trước, nếu không, không ai có thể tìm ra được con thú bị bắn ấy. Sau khi săn được hươu, ngạn thì cần phải xóa sạch vết máu, vết dơ lưu lại trên đất. Tại hiện trường đợi thú săn, thì không được vứt đầu thuốc, vỏ đạn, phân, một phần là e rằng sẽ gây ảnh hưởng cho người đi săn đến sau.

Khi săn thú, người Ngạc Luân Xuân còn cấm kỵ không được bắn con dã thú đang giao phối, vì cho rằng, khi bắn loại thú này thì sau này sẽ không thể nào săn được những con thú khác nữa. Nhưng nếu đợi đến khi con dã thú giao phối xong thì lại có thể bắn nó.

Đối với một số tộc người, khi săn bắn thì người ta còn sợ gặp phải sự quấy nhiễu của người ngoài hoặc của thần linh ngoài thần săn bắn. Ví dụ như, khi đi săn thì người Lạc Ba kỵ gặp phải người ngoài, nếu nhỡ gặp phải thì phải nhẹ nhàng tránh đi. Vũ khí săn bắn cũng kỵ để người ngoài nhìn thấy, nếu không, họ cho rằng linh hồn của người lạ sẽ cướp con thú đã săn được đi, khiến họ có săn mà không có thú. Người Ngõa thì kỵ không cho người khác mượn súng và cung mà bản thân mình chưa dùng qua, nếu không, bản thân người chủ sẽ không bắt được thú. Người Ngạc Luân Xuân cũng cấm vẩy rượu lên lửa trong lồng vào lúc săn thú.

Đối với người Ngạc Luân Xuân, trong khi săn bắn mà săn được một con hươu, một con ngạn hoặc một con lợn rừng, thì đầu tiên cần phải tế Sơn thần tại nơi ấy. Nếu không dùng con vật ấy để tế thì trong khi săn, thợ săn sẽ bị bệnh hoặc săn không được thú. Đối với thợ săn của vùng núi Trường Bạch, mỗi khi bắn trúng một con hươu đực, cần nhanh chóng chạy đến và ôm đầu hươu, nhằm phòng tránh hiện tượng do bị thương mà hươu làm gãy nát nhung hươu. Khi săn hươu đực thì kỵ những con hươu có nhung chưa lớn. Bình thường khi săn “thái vi”, tức chỉ tìm một con thú để săn, như báo chẳng hạn, thì cấm kỵ nhất là giết hươu đực, hươu cái. Thời xưa, người Tích Bá cấm kỵ săn giết cáo. Người Ngạc Luân Xuân, Ngạc Ôn Khắc khi săn được con dã thú lớn, như gấu, lợn rừng… thì khi mổ bụng lấy nội tạng ra, trái tim và lưỡi cần phải để ở cùng một chỗ. Chỉ khi nấu ăn chín thì mới được chặt thịt ra, nếu không, sau này sẽ không săn được loài dã thú này nữa.

Người Ngõa khi đi săn, họ chấp hành câu cách ngôn người gặp cũng có phần” một cách rất nghiêm túc, kỵ chia thiếu phần. Nếu không, đó chính là một sự miệt thị rất lớn đối với người bạn săn, sẽ dẫn đến tranh chấp. Tục này còn cho rằng, khi đi săn trên núi cao, thì thịt của mỗi bữa ăn cần phải ăn cho hết, không được mang trở về nhà.

Người Ngạc Luân Xuân và người Ngạc Ôn Khắc có nghi thức sùng bái và một vài cấm kỵ rất đặc biệt đối với gấu. Sau khi thợ săn săn được gấu thì không được nói “săn trúng rồi”, mà phải nói rằng “thật là đáng tội nghiệp cho tôi”. Gấu bị bắn chết không được nói là “chết rồi”, mà phải nói thành “bố thổ cáp”, hoặc “a phạ kháp”, tức có nghĩa là “thành rồi”, hoặc “ngủ rồi”. Ở bãi săn, sau khi đã săn được gấu thì đầu tiên, người già sẽ đến để xem đó là gấu đực hay gấu cái, cấm trai tráng đếm xem. Bởi vì sinh thực khí của gấu hoàn toàn giống với của người, cho rằng, nếu để thanh niên trái tráng đếm xem thì sẽ mắc bệnh đái gắt. Khi lột da thì phải dùng tấm thảm hoặc những thứ khác để đậy lên phần thân dưới của gấu. Nếu là gấu đực thì đầu tiên là cắt tinh hoàn treo lên trên cây, sau đó mới lột da. Người ta cho rằng, chỉ có như vậy thì gấu đực mới thành thực khi gặp người. Đồng thời, phải đẩy máu động mạch về tim, không được cắt đứt động mạch. Sau khi moi lấy ruột ra và quấn ba vòng quanh đầu gấu thì mới được cắt cổ gấu. Không được ăn thịt đầu gấu, sau khi cắt ra thì dùng cỏ quấn lại, để lên trên giá cây tiến hành nghi thức phong táng. Những người thợ săn còn phải quỳ lạy đầu gấu, kính hương, dập đầu trước gấu và cầu xin thú săn trước đầu gấu, đồng thời, phải dùng khói hương hơ đầu gấu. Sau đó, cầm tấm da gấu đi qua cửa của từng nhà để cho gấu từ biệt mọi người, tấm da gấu ấy sẽ được tặng cho người già. Khi trở về nơi khiêng gấu đi, thì còn phải giả bộ khóc lóc. Phải dùng ngựa thiến để thồ gấu đi, không được dùng ngựa cái hoặc ngựa đực để thồ gấu. Thịt gấu phải được người của cả thôn cùng ăn. Con dao cắt thịt gấu không được gọi là dao, mà phải gọi là “khắc nhĩ căn cơ”, ý nghĩa là con dao cùn cắt không đứt gì cả. Cây súng bắn chết gấu thì cũng không được gọi là súng, mà phải gọi là “hô ông cơ”, ý là công cụ bắn không chết một loài động vật nào, hoặc gọi là “ống thổi (khạc) lửa”. Khi ăn thịt gấu, trong miệng phải phát ra tiếng “chách chách, cụp cụp”, tỏ ý rằng không phải họ đang ăn thịt gấu, mà là con quạ đang ăn vậy. Hai chân trước của gấu thì đàn ông không được ăn. Nếu đã ăn rồi, thì sau này gấu sẽ cướp mất súng săn. Đối với đầu gấu, tim gấu và nội tạng của gấu thì cho dù bất kỳ là ai thì cũng không được ăn, mà phải phong táng cùng với xương còn lại sau khi ăn. Khi phong táng, mọi người cần phải ra vẻ đau thương khóc lóc, và còn phải dập đầu, kính hương, cầu chúc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ ĐÁNH CÁ Những người sống gần sông rạch, hồ, biển đa phần là những người sống bằng nghề đánh cá. Nguồn tài nguyên thủy sản phong phú như cá, tôm, trai, cua đều là mục tiêu đánh bắt và là điều kiện mưu sinh của ngư dân. Việc làm ăn trường kỳ trên sông nước đã khiến cho con người kết một duyên kiếp không thể nào dứt ra được với những công cụ đánh bắt như thuyền, lưới… Những điều mê tín trong phương thức sử dụng công cụ và phương thức đánh bắt, cùng với ý thức cầu cát tỵ hung thể hiện trong tín ngưỡng và ngôn ngữ thuộc nghề đánh cá đã tạo nên những cấm kỵ dân gian.

Thuyền là một công cụ quan trọng trong nghề đánh bắt thủy hải sản. Người và thuyền được gắn liền nhau, thuyền là “sợi dây sinh mệnh” của ngư dân. Ngư dân thường nhân tính hóa, sinh mệnh hóa con thuyền, ở hai tuyến giữa ngang và dọc dưới thuyền thì tuyệt đối không được đóng đinh, người ta nói rằng, nếu đóng đinh lên hai tuyến giữa thì sẽ khiến cho tính đực của thuyền sẽ lớn lên, khi ở trên biển mà tính đực của thuyền phát tác thì khó mà khống chế được, nó sẽ chủ động đụng húc vào thuyền khác, gây nguy hại đến sự an toàn của con người. Ngoài ra, khi đóng thuyền, người ta có cách nói “đầu không đụng vào cây dâu, chân không đạp vào cây hòe”, có nghĩa là, khi đóng thuyền thì không dùng gỗ cây dâu làm mũi thuyền, không dùng ván cây hòe làm đuôi thuyền. Bởi vì “cây dâu” ( 桑 tang) đồng âm với “tang” ( 丧 tang tóc), phạm vào kỵ húy, vì thế mà tuyệt đối không được dùng gỗ cây dâu đóng mũi thuyền. Cây hòe tượng trưng cho điều phúc, nên không được dùng để đóng đuôi thuyền, e rằng sẽ giẫm phải lên điều phúc.

Những cấm kỵ về thuyền của ngư dân Đông Hải lại rất đặc biệt. Trước khi ra biển, những đồ vật chỉ có thể đưa vào trong thuyền mà không được mang từ trong thuyền ra. Vào buổi tối, nếu ngư dân đưa nhầm mùng mền của mình vào thuyền của người khác thì cũng không thể trả về, đợi đến khi cho thuyền chạy ngược lại thì mới đem trả mùng mền lại. Sau khi ngư dân lên thuyền thì không được mang giày, không rửa mặt. Bất luận là vào mùa đông hay mùa hè thì cũng chỉ được mặc quần đơn, khi mùa xuân đến thì anh cả (lão đại) trong thuyền mới mới quần dài, tất cả anh em cùng làm ăn trong thuyền chỉ mặc quần cộc, vì như thế thì mới dễ dàng nhận ra ai là anh cả trong thuyền.

Khi làm ăn trên thuyền, làm việc gì cũng phải làm dấu hiệu, tất cả đều có luật vận tiết tấu của nó, nhưng khi gặp gió to thổi tốc mái che thì không cần dùng dấu hiệu. Khi kéo lưới bắt cá thì không được thò tay bắt đuôi cá, mà phải bắt đằng đầu, ngụ ý rằng, bắt đầu cá thì sẽ hốt được cả bầy cá. Theo tục xưa, ngư dân vùng Hoàng Hải rất sùng kính Long vương, Thiên hậu và Sở Thái gia. Trên mỗi một chiếc thuyền còn có “lão tiên sinh”, như “gia đường bồ tát”, ngày thường, anh em sẽ bưng cơm đến cúng. Khi sửa thuyền, cần phải dùng ván khoang hoặc những vật khác để dựng tạm một “miếu đường” trên bãi biển, đây cũng chính là nơi cấm kỵ như nơi cấm kỵ ở trên thuyền, những sinh hoạt ngày thường cấm không được tiến hành ở nơi này. Khi sửa thuyền xong và cho xuống nước, thì cần thỉnh “lão tiên sinh” và bài vị lên thuyền. Tương truyền rằng, “lão tiên sinh” chính là người trên thuyền bị lâm nạn trong thời gian trước kia, do vậy mà ông ấy biết dạy cho mọi người phải giữ gìn tuân thủ cấm kỵ như thế nào, để tránh không cho xảy ra những điều bất hạnh ấy nữa.

Tục có câu “trong nửa tấc ván là nhà mẹ đẻ, ngoài nửa tấc ván là phủ Diêm vương”, khi làm việc trên thuyền, thì khó có thể biết rằng khi nào sẽ có điều bất trắc xảy ra, luôn ở trong biên giới của sự nguy hiểm, vì thế mà những cấm kỵ càng nhiều, càng nghiêm.

Nhà có thuyền thì gọi là thuyền hộ 船户 , một số thuyền hộ lớn có thể kiêm cả một số nghề công thương khác, theo cách nói của xã hội thì có thể gọi đấy là “ông chủ” (lǎo bǎn), nhưng ở đây, người ta kỵ không nói như vậy, vì “ông chủ” (lǎo bǎn 老闆 ) lại đồng âm với “vớt ván” (láo bǎn 撈版 ), chỉ khi thuyền gặp gió lớn trên mặt biển, sau khi thuyền bị gió giật vỡ thì người vớt ấy mới được gọi là “vớt ván”, nếu gọi là “ông chủ” thì sẽ phạm vào ngôn ngữ cấm kỵ của người trong thuyền hộ. Trên thuyền, người ta kỵ nhất là những chữ “lật, chìm, vỡ, dừng, xa, tán, lộn ngược, lửa”

Khi nói đến chữ “phàm bồng 帆蓬 ” (fan péng – buồm) thì người ta chỉ nói đến chữ 翻 bồng, mà không được nói đến chữ “phàm”, vì nó đồng âm với chữ “phiên” (fan – lật ngược). Khi kéo vật từ trên cao xuống, hay lật ngược những vật đang đựng xuống thì không được nói là kéo hay lật ngược, mà phải gọi là “tiểu 小 “. Hạ buồm xuống thì gọi là “tiểu bồng 小蓬 “; gác chèo xuống thì gọi là “tiểu nguy 小桅 “. Hạ buồm xuống một phần thì gọi là “tha bồng 擦蓬 “, hạ xuống 1/5 thì gọi là “tha lương đại bả giác” (xoa hai góc lớn 擦梁大把角 ); buông ½ thì gọi là “tha lương tiểu bả giác” (xoa hai góc nhỏ 擦梁大把角 ); hạ xuống đến mức thấp nhất chỉ còn khoảng 1/10 thì gọi là “tha đáo ma ma sí” (xoa đến cánh ma ma 擦到媽媽翅 ). Khi kéo vật từ dưới thấp lên cao thì kỵ không nói là kéo hay lôi, mà phải nói là “nâng”, “giơ”, “nâng buồm”, “bắt neo”. Nếu muốn chuyển đề tài hoặc đổi đầu thì nói nói chữa thành “chuyển một sào chống”, chữ “lật ngược” bị cấm kỵ một cách rất rõ ràng. Những thứ như cái búa, con dao, dao đá, cái kéo đều được gọi là “anh chàng nhanh nhẹn”. Cá chết rồi thì gọi là “cá thẳng rồi”.

Trong thuyền không được chở người chết, tục cho rằng như thế sẽ không tốt. Người ta còn cấm chữ “tắm 洗 “, ví dụ như khi tắm gội thì nói là “gội một chút mát mẻ 沖涼 “, vào sáng sớm thì kỵ những chữ như “cọp”, “khỉ”, “ma”. Nếu có chút không cẩn trọng thì chủ thuyền sẽ trách mắng. Chống cái gì hoặc đệm cao cái gì đó thì đều gọi là “nâng cao một chút”. Khi thuyền cập bến hoặc vào cảng, thì gọi là thu bờ, thu cảng, thu cửa; người ngủ trên thuyền thì gọi là “khải giác 凱覺 “, ngủ một lát thì gọi là “khải nhất hội 凱一會 “. Khi ở trên thuyền, cầm vật mà không cẩn thận để vật rơi xuống, thì không được hốt hoảng la lên rằng “oái oái”, càng không được nói “oái, vuột tay mất rồi”, trên thuyền tối cấm kỵ nói đến chữ “vuột tay”, vì đó là biểu hiện của hiện tượng không cứu được người chết đuối. Nếu có người không biết hoặc vô ý mà phạm phải cấm kỵ này thì cần phải đến anh cả (lão đại) của thuyền mà hung hăng đánh ông ấy một bạt tai, người bị đánh không được có phản ứng gì, người khác thì cảm thấy đánh như vậy là đáng, và đánh càng mạnh thì càng tốt. Vì đánh bạt tai khiến cho người ta có thể khu trừ xui xẻo, đánh càng mạnh thì xui xẻo càng bị trừ sạch sẽ.

Ở Thượng Hải, những lời kiêng kỵ thì không được nói, những việc cấm kỵ thì không được làm. Hải Châu dân tục chí” có đoạn viết giới thiệu về ngư dân như sau: “Những đồ gia cụ, những sọt cá khi hong phơi thì chỉ được để miệng đồ hướng lên phía trên mà không được lật hướng về phía dưới”. Lại nói rằng “Khi ngủ chỉ được nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, không được nằm sấp. Đó là vì khi đàn ông chết đuối, thây nổi lên, phần mông hướng về phía trên”. Chiếc neo sắt lớn nhất để ở đầu thuyền được gọi là neo thái bình, nếu chưa đến nỗi vạn phần nguy khốn thì không được động đến chiếc neo đó. Phía sau thuyền có một vài cái rổ lớn đan bằng tre, chuyên để dùng khi gió to đứt neo, người ta bỏ những cái rổ ấy để cản nước, có tác dụng là làm ổn định thần thuyền, khiến thuyền có thể trôi chầm chậm thuận theo thế gió, người ta gọi đó là rổ thái bình. Trong khoang sau, người ta để một cái búa lớn, rất bén, chuyên dùng để chặt cột chèo và chặt dây neo một cách cấp thời khi thuyền gặp phải gió giật, gọi là búa thái bình. Vào lúc bình thường, người ta không được động chạm gì đến ba vật “thái bình” này, không được bước ngang qua chúng, càng không được làm những việc phạm vào cấm kỵ, nói những lời kiêng kỵ ngay trước chúng. Nếu có người vô ý nói những lời hoặc làm những chuyện phạm cấm kỵ thì ngoài việc bị đánh bạt tai, anh cả còn phải đốt hương dập đầu trước chiếc neo thái bình, miệng lẩm nhẩm: “Lão neo lão neo đừng trách cứ, phải nới lòng (lượng thứ) đối với chuyện làm của tiểu nhân”. Khi thuyền đang trên biển, bất có bất kỳ thứ gì trôi trên sóng trên gió đều không được nhìn và cũng không được nhặt lấy.

Tất cả mọi sinh hoạt của con người trên thuyền đều phải được tiến hành trên mui sau của khoang thuyền, vì cho rằng mui sau cách xa với mặt nước biển; khoang sau được gọi là khoang rỗng, nếu sinh hoạt ở đây thì sẽ tránh được những động chạm đến thế giới của Long vương. Vào bất kỳ lúc nào cũng không được tiểu tiện ở hai bên mạn thuyền, mà là ở mui sau, và vào bất cứ lúc nào cũng không cho phép hai người đại tiểu tiện cùng lúc với nhau, cho rằng “hai người đái vào nhau, tất sẽ gặp gió bạo”. Ở vùng Triết Giang, người ta kỵ không để phụ nữ đi lên trên đầu thuyền, người ngoài mà chân không sạch cũng không được đến đầu thuyền. Ngư dân vùng Phương nam thì kỵ người bước ngang qua mũi thuyền, cho đó là điềm không lành; ở vùng Triết Giang, nếu như hai chiếc thuyền song hành với nhau, thì kỵ không được dùng dây lòi tói sắt để xích vào nhau; vùng Triết Giang, An Huy thì cấm không được chở vật chết trong khoang thuyền, tục cho rằng như thế sẽ bất cát bất lợi; ở một dải đất Hồ Châu Triết Giang, cấm kỵ hành khách nam nữ giao cấu với nhau trên thuyền; vùng Phương nam khi ra biển đánh cá thì kỵ để chuột trong thuyền chạy mất, tục cho rằng, đó là điềm không lành. Khi gặp tình hình như vậy thì cần phải tìm cách mời chuột trở lại thuyền, sau đó mới dám ra biển đánh bắt cá.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THƯƠNG NGHIỆP Trong ngành thương nghiệp thì đầy rẫy những rui ro, ẩn tàng nhiều cái bẫy chết người, vì thế mà ngay từ thời xưa, giới thương nhân cũng đã hình thành những tập tục cấm kỵ tránh hung tìm cát. Những người trong ngành thương nghiệp luôn hy vọng rằng, khi thông qua những cấm kỵ ấy thì có thể gặp may mắn trên con đường tiền tài, buôn bán.

Có nhiều phương pháp trong giao dịch thương mại, nhưng thường được chia thành hai loại chủ yếu là ngồi tại chỗ mà buôn bán tại (tọa thương) và đi lại để buôn bán (hành thương). Đi lại buôn bán còn được gọi là chạy bán, hay bán du động. Còn ngồi tại chỗ buôn bán là thường cố định buôn bán tại một nơi, nhiều nhất là các hàng quán, tiệm bán hàng, thường tập trung nhiều ngành nghề buôn bán lại với nhau. Hai loại buôn bán này cũng đều có những cấm kỵ của nó.

Những cấm kỵ trong loại buôn bán cố định là rất nhiều. Chủ tiệm rất kỵ vào sáng sớm mà mua bán không thành với người khách đầu tiên, vì e rằng suốt ngày sẽ phải gặp xui xẻo. Trong tiệm, kỵ chống eo lười nhác, hoặc ngáp, hoặc đạp lên vải bọc trên đất, hoặc ngồi ở ngạch cửa, hay gõ vào bàn tính tiền, đứng tựa cửa mà lưng hướng ra ngoài, đùa bàn tính và cất bàn tính…, tục cho rằng, những hành vi này là biểu hiện bất kính với thần tài bồ tát, sẽ gây bất lợi cho việc làm ăn kinh tế. Khi quét tiệm thì kỵ quét ra ngoài, mà cần phải quét hướng vào trong, ý là quét vàng bạc châu báu vào nhà. Gặp ống đồng trên mặt đất thì kỵ không được nhặt lấy, khi đếm tiền bạc thì phải hướng ra bên ngoài.

Khi bán vải vóc thì kỵ không gõ vào cân; khi bán rượu thì kỵ không lắc lắc chai rượu, nếu không, người ra bảo rằng, khi uống thì đầu óc sẽ choáng váng. Đầu năm, khi nhập hàng vào cửa hiệu thuốc, thì phải nhập vào vị thuốc đại hải lớn và hạt sen lớn để lấy cái ý đại phát đại lợi. Ở các tiệm uống trà, tiệm cơm thuộc vùng Nam Kinh Giang Tô, thì ba người ngồi một bàn, nếu như trống một ghế thì không được ngồi, gọi là “ngồi kiểu đóng cửa”, chủ tiệm rất kỵ. Những người hầu bàn trong các nhà hàng, quán rượu thì tối kỵ người khách đứng đầu gọi món “cơm chiên” ( 炒飯 ), vì trong tiếng Quảng Đông, “chiên” ( 炒 chǎo) có nghĩa là sập tiệm. Khi làm bếp mà nghe thấy tiếng “chiên” thì cũng cho là không tốt. Những nhân viên làm việc trong cửa hiệu không được đọc sách, cho dù có rảnh rỗi thì cũng không có ngoại lệ. Ông chủ thì muốn một vốn vạn lời, đâu dễ gì để bị thua lỗ? Vì thế nên mới cấm kỵ vậy. shu) và “thua” ( . Trước đây, ở một số khu vực của người Hán, người ta có cấm kỵ khi bán lợn là bán lợn không bán dây. Người bán lợn thì tất sẽ phải dùng dây buộc để dẫn lợn đi, nhưng khi bán lợn thì phải thu lấy dây về, vì cho rằng nếu bán luôn dây thì sẽ bị người ta mang vận may của mình đi mất, sau này có nuôi lợn nữa cũng sẽ không tốt. (Ở đây, các ông chủ cửa hiệu cũng kỵ hiện tượng hài âm giữa “sách” (

Trong các cửa hiệu thương nghiệp thì cửa hiệu thuốc là nơi có nhiều cấm kỵ nghiêm ngặt nhất. Khi học trò bước vào tiệm, đầu tiên phải nhặt lấy “vạn kim chi” (nhành vàng), “kim ngân hoa” (hoa vàng hoa bạc) và “kim đấu” (đấu vàng), với ý nghĩa là lấy vàng bạc vậy, hoặc nhặt “bách tử nhân”, vì “bách tử nhân” cũng tương tự như hạt gạo, nhằm để nuôi tác phong làm việc cẩn thận cho bọn học trò học nghề. Trong lời nói bình thường thì thường lấy tên thuốc để lấy cái may. Ví dụ như “liên kiều” để gọi “thái hợp”, “bối mẫu” để gọi “nguyên bảo bối”, “quất lạc” để gọi “phúc lộc”, “trần bì” để gọi “đầu hồng”, “quất hồng” để gọi “đại hồng bào”, cắt thuốc thì gọi là “đuôi hổ”, ghế thuốc thì gọi là “thanh long”; vào mùa xuân thì lấy “đông mộc” khai đao, mùa đông thì lấy “đơn bì” thu đao. Gói thuốc thì phải gói cho có hình như dấu ấn của vàng, vào mùa xuân thì còn phải dùng dây đỏ để buộc. Cấm để những người làm việc chung ngửi thuốc. Trao thuốc thì cấm kỵ chuyền qua tay người khác, vì cho rằng, nếu chuyền qua tay người khác thì sẽ chạm vào khí độc của người ấy. Khi đi hành nghề bán thuốc thì cũng phải có những quy tắc riêng, như khi dân gian đang ăn tết thì kỵ chẩn đoán bệnh, vì sợ chạm phải “khí độc”, trừ phi có hai khoản phí chẩn đoán bệnh để phá tai ách thì mới được. Bình thường, khi đi chẩn đoán bệnh, cũng không được gõ vào cửa của người bệnh, tục có câu “Thầy thuốc gõ cửa, phải mời vào mới xong”. Nhằm để giữ bí mật nghề nghiệp của mình, nên trong dân gian có cách nói đối với những thầy thuốc là “cho thuốc không cho đơn”. Thời xưa, những thầy thuốc rất kính trọng Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, xem đó là tổ sư gia, không dám có chút gì bất kính.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGÀNH THỦ CÔNG Người thời xưa trong tình trạng sản xuất nhỏ, phương pháp làm việc không những rất kém an toàn, hơn nữa, những kiến thức về an toàn cũng khá nghèo nàn, vì vậy, tự nhiên là họ sẽ có những lo lắng đối với sự an toàn của bản thân. Nhằm để cân bằng và thỏa mãn tâm lý, những người trong ngành thủ công nghiệp cũng đã thực hành việc tế tự và những hành vi cấm kỵ.

Do các ngành thủ công trong dân gian là rất khác nhau nên những cấm kỵ trong các ngành cũng mang những nét đặc thù riêng. Trong tất cả các ngành nghề, nghề khai khoáng là một trong những nghề nguy hiểm nhất. Công nhân khai khoáng khi tiến hành đào mỏ thì hệ số an toàn là rất nhỏ, đặc biệt là trong thời gian trước đây, những biện pháp an toàn là rất kém, vì vậy mà sự nguy hiểm đối với sinh mệnh là rất lớn. Vì vậy, công nhân khai khoáng khi ở trên giếng, khi xuống giếng thì kỵ nói đến những lời đại loại như “chết”, “ngạt chết”, “đè chết”, kỵ chửi tục. Bản thân công nhân không được nói, mà cũng không được để người khác nói, khi vợ chồng cãi vả nhau thì cũng không được nói. Công nhân cảm thấy trong lòng mình buồn phiền, hoặc cãi với người khác, thì trong ngày ấy không được phép xuống giếng. Về hành vi, thì công nhân khai khoáng kỵ để người khác đánh vào mũ của anh ta (mũ an toàn), không được ném nón lên mặt đất. Bởi vì chiếc nón là cái bảo vệ phần đầu, cũng chính là biểu trưng và một phần thân thể của đầu. Người ta kỵ để người khác đánh hoặc đùa giỡn đầu mình. Về phương diện ẩm thực, khi công nhân xuống giếng thì kỵ uống rượu, ngửi mùi rượu cũng không được. Khi xuống giếng thì kỵ mang theo diêm quẹt, đây có lẽ là do người ta sợ dưới giếng có khí mêtan (gaz), gặp diêm sẽ bị nổ. Bất kỳ ai cũng không được đốt giấy trên miệng giếng, chỉ vì chỉ có người chết thì mới đốt giấy.

Nếu dưới giếng của mỏ mà có động vật thì đó là điềm tốt, công nhân mỏ than vùng Tây Bắc thì kỵ bắt chuột trong giếng mỏ. Khi công nhân khai khoáng xuống giếng, thì kính chuột như thần, cho dù nghèo nàn đến đâu, ngày ba bữa rau cải không no bụng, nhưng khi ăn cơm ở dưới giếng thì luôn dành một phần cơm và thức ăn cho chuột, cơm thừa ăn không hết cũng không được mang về nhà, mà đổ xuống giếng để mời chuột. Tập quán này có nguyên nhân là do ba loại khí gaz, khí bùn và khí than đều rất nguy hại đối với sức khỏe của con người, mà chuột lại rất nhạy cảm với ba loại khí này, chỉ cần ở những nơi nào không có độc khí thì loại động vật tinh ranh nhỏ bé này sẽ xuất hiện, vì vậy, công nhân khai khoáng một khi nhìn thấy chuột thì đã có ngay một cảm giác an toàn; nếu dưới giếng mỏ mà không thấy chuột chạy qua chạy lại thì sẽ phát sinh ngay một tâm lý vô cùng sợ hãi.

Cấm kỵ đối với người làm nghề đồ tể là không được giết lợn vào ngày hợi. Khi giết súc vật, cần phải giết chết bằng một nhát dao, kỵ giết bằng hai nhát dao. Nếu không, người ta xem đó là điềm bất tường, và nó dự báo rằng, sang năm nuôi lợn sẽ không được thịnh vượng. Sau khi chọc dao vào cổ lợn, thì khi quăng dao xuống đất, mũi dao không được hướng về phía cửa chính của người chủ, nếu không, nhà ấy tất sẽ gặp phải chuyện không lành. Khi rạch mổ bụng, không được treo lợn nhằm thẳng về nơi có đặt thần vị, nhằm tránh đắc tội với thần. Sau khi giết lợn xong thì đầu tiên là phải cắt một miếng thịt vuông vức nặng khoảng một hai cân để hiến cho “đại thần nuôi dưỡng”, sau đó con người mới được ăn, nếu không, vào năm sau, gia chủ cho dù có nuôi lợn đi nữa thì cũng không được thuận lợi.

Thợ làm đá làm nhiều đến thế nào cũng không bằng mài nước. Ngày xưa, trong phòng mài nước có thờ Lão quân, thần Sông và Thần tài, vào ngày mùng hai, mùng ba tháng giêng đều phải đốt đèn, thắp hương, cúng tế, cầu xin thần linh bảo vệ sự bình yên. Bởi vì, con vật được Lão quân cưỡi là con trâu xanh, vì vậy, khi người thợ làm đá đục đẽo mài nước, những người bình thường không được cầm roi đánh ngựa đứng một bên mà nhìn, nếu không, sẽ làm cho con trâu mà Lão quân cưỡi bị giật mình, việc mài nước sẽ không thể nào hoàn thành được. Thợ làm đá khi khoan lỗ thì kỵ đánh búa hụt. Khi đục đá, thì bất kỳ là ai cũng không được mở miệng nói một lời nào, vì cho rằng, mở miệng nói chuyện thì dễ khiến thợ làm đá bị thương, tục quy định rằng, ai nói chuyện mà xảy ra sự cố thì tự mình chịu. Có nơi thì không cho phép nói lớn tiếng. Có nơi còn quy định không cho phụ nữ đi vào trong hang đá và vào miệng hang đá, tục cho rằng, người nữ bước vào thì Sơn thần sẽ nổi giận. Nhiều nơi còn cấm kỵ không được úp chén, tục cho đó là điềm động đá, có nơi sắp sụp. Sau khi thợ làm đá khắc xong bia đá cho người ta, vào buổi sáng ngày dựng bia thì không được nói những lời bất cát bất lợi; vào thời khắc dựng bia cho ổn định thì càng kỵ những người ăn nói bậy bạ. Ngoài ra, theo sự khác biệt của phương ngữ từng nơi mà cũng có những tập tục quy định khác nhau. Vùng Thanh Điền Triết Giang thì kỵ nói chữ “động” (hang), khi vào trong động khoáng vật thì gọi là “tiến tài” (vào tiền), kỵ nói “về nhà”, mà tục phải gọi là “dời hài cỏ?; kỵ nói “rửa” ( 洗 ), vì nó hài âm với “chết” ( 死 ), vì thế mà đến cả nồi, chén, những người thợ làm đá cũng không rửa, mà chỉ dùng vải để lau sạch.

Thời xưa, việc may áo được xem là chuyện của thần thánh, người ta đã có quan niệm “may áo cầu lành”. Thời xưa, người ta đã có những quy định rõ ràng vào ngày nào không được may áo. Theo những ghi chép của Đôn Hoàng văn hiến: Ngày Thân trong ba tháng mùa xuân không được may áo, may áo vào ngày Dậu trong ba tháng mùa hạ thì sẽ không tốt, đại kỵ may áo vào mùa thu, phàm là vào những ngày sáu, ngày mười sáu, ngày hai mươi tháng tám đều không được may áo. Đại kỵ may áo vào ngày mười tháng mười, nếu may áo vào ngày cuối tháng ba thì sẽ bị cọp vồ, là điều đại hung. Người xưa cho rằng không nên may áo vào ngày kỵ máu.

“Tại sao may áo vào ngày mười tháng mười là điều đại kỵ? Vì đây là ngày sinh nhật của hoàng đế đời Đường là Đường Văn Tông Lý Ngang, nếu động dao kéo may vá trong ngày này thì sẽ bị xem là cử chỉ bất trung, biểu thị cho hành động “?động đao” mưu phản, vì vậy mà người ta liệt việc may áo vào dạng bị cấm kỵ.

May áo có cấm kỵ, và vá áo cũng không ngoại lệ, cho đến nay, dân gian vẫn còn hưng thịnh tập tục “tháng giêng không đụng kim chỉ”. Ngạn ngữ có câu:

Mùng một không kỵ kim, quốc khố trong năm trống Mùng hai không kỵ kim, thiên hạ trăm họ nghèo Mùng ba không kỵ kim, góa lẻ càng thịnh dữ Mùng bốn không kỵ kim, trong triều sinh sự loạn Mùng năm không kỵ kim, mùng năm tháng năm sấm dậy vang.

Từ ngày mùng một đến ngày mười ba, đều có kiếp số phạm điều cấm kỵ. Tương truyền rằng, tập tục này bắt nguồn từ những năm cuối đời Bắc Tống, do Trương Thiên sư xướng lên nhằm giải cứu những cung nga suốt cả đời mình thêu thùa may vá.

Những kiểu loại của ngành thủ công nghiệp là rất nhiều, và các bộ phận của nó đều có những cấm kỵ riêng. Những cấm kỵ này kết hợp với nội dung và hình thức sản xuất của các ngành nghề khác nhau làm một, cùng cấu thành đặc trưng cho nghề nghiệp. Vỉ thế, người trong nghề hoàn toàn không cho rằng cấm kỵ là điều mê tín, mà xem đó là những phép tắc cần phải tuân thủ nghiêm túc.

NHỮNG CẤM KỴ TRONG NGHỀ HÝ KỊCH, GIẢI TRÍ Nghề hý kịch là một nghề mua vui cho người khác, vào thời xưa, những người theo nghề này thường có thân phận thấp kém, nhằm để sinh tồn và phát triển, những tín ngưỡng thần linh và những cấm kỵ trở nên hết sức nghiêm ngặt và có nhiều khác biệt nhau.

Khi một lầu kịch, một sân khấu kịch, một hội quán, một miếu hậu mới được xây lên, thì vở diễn trên sân khấu diễn xuất đầu tiên đều phải cử hành nghi lễ cúng tế “phá sân khấu”. Nếu như khi diễn kịch mà xảy ra những sự cố lớn nào đó, gây chết người, thì cũng phải phá sân khấu. Người trong nghề hý kịch gọi sân khấu quay về hướng Nam, sân khấu quay về hướng Đông là “Dương đài”, sân khấu quay về hướng Bắc là “Âm đài”, quay về hướng Tây thì gọi là “Bạch Hổ đài”, tục nói rằng: “Nếu muốn phát tài lớn, thì cấm kỵ nhất là Bạch Hổ đài”. Vì vậy, phàm là “Bạch Hổ đài” quay về hướng Tây thì cũng phải “phá đài”, sau đó mới được diễn xuất. Nếu không, tục cho rằng, trong ê-kíp kịch sẽ xảy ra tranh cãi, đánh nhau; hoặc diễn xuất không tốt, diễn võ kịch thì bị thương; thậm chí là không diễn được, sau này sẽ không có ai đến mời đoàn kịch ấy diễn cả.

Ở mỗi trường hợp khác nhau thì hình thức phá đài thường cũng khác nhau. Có trường hợp thì khá đơn giản, chỉ cần treo một chòm râu đỏ lên tường vách phía sau sân khấu, ý cho rằng đó chính là phán quan, sẽ khu tà trừ tai. Thông thương thì vào đêm tối, để một diễn viên có võ diễn vai linh quan, trên sàng diễn, anh ta sẽ truy đuổi con ma nữ do một vai đán thủ diễn, và đuổi ma nữ này đi. Giết một con gà trống, lấy máu gà vảy ra bốn bên sân khấu. Sau đó thì đốt pháo, đánh chiêng đánh trống một hồi, như thế thì được xem là đã phá được đài rồi. Trước khi phá đài thì cấm kỵ đốt đèn phía trước sân khấu, ngay cả đèn dầu được đốt ở đằng sau sân khấu để giúp hóa trang, thì sau khi hóa trang xong cũng phải thổi tắt. Khi “phá đài” thì kỵ để người ngoài nhìn trộm, kỵ nói chuyện. Diễn viên ngậm một cái túi cát màu đỏ chu trong miệng, cho rằng như thế thì có thể tránh tà, tránh được ma quỷ lên người mình.

Việc nhận đồ đệ trong ban kịch phải tuân theo những quy củ rất nghiêm ngặt, thường là khi đoàn kịch dạy nghề thì cấm người khác nhìn trộm. Nghệ nhân cũng không được đùn đẩy trách nhiệm khi lên sân khấu, không được xin nghỉ không ra sân khấu diễn. Cấm kỵ phân nhóm, kết bè phái trong ban kịch. Khi diễn xuất, diễn viên không được nhầm. Khi diễn thì cấm không được đùa giỡn, không được biếng nhác, không được sơ suất, không được làm tổn thương người khác trên sàn diễn, không được cười. Không được “sưu đài”, “tao đài” (tức là cấm không được nhìn ngắm phụ nữ khi đang ở trên sàn diễn). Khi diễn kịch thì cấm kỵ để người học nghề ăn mặc không chuẩn xác, tục có câu: “thà là mặc áo rách, chứ không mặc áo sai”. Ngoài ra, trên phương diện kỹ xảo diễn xướng và đóng vai thì cũng còn có nhiều cấm kỵ khác, đều thuộc về mặt kỹ thuật nghề nghiệp, ví dụ như “khi tịnh đi thì không được thêm mảnh vải màu, khi thiếp đi thì không được để lưng trần, khi sinh đi thì kỵ để rơi râu mồm” (tịnh, thiếp, sinh… đều là những loại vai trong hý kịch cổ điển , người ta thường cho rằng, trong kịch có đến năm loại vai diễn: sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, năm vai này điển hình cho năm tính cách khác nhau – TDK). “Kỵ đảo âm hòa vận, kỵ nhả chữ không thật, kỵ lạc giọng do sợ sệt, kỵ phách nhịp không tròn”

Ở hậu trường, ở phía sau sân khấu thì cũng có nhiều quy ước. Ở phía sau sân khấu thì cấm không được đi lại lung tung, nằm ngồi ngổn ngang, tay chân thái mái, tất cả những khám thờ tổ sư, bàn hương, đạo cụ đều không được làm hư hoại; những rương áo, rương mũ đều được phân loại, không được ngồi tùy tiện. Chỉ có vai sửu (còn gọi là tiểu hoa kiểm) thì có thể ngồi tự do, nhưng cũng bị cấm kỵ không được ngồi lên giữa hai cái rương. Bình thường, mặt nạ được dùng vải lụa phủ lên, không để diễn viên nhìn thấy. Cấm kỵ soi gương khi mang mặt nạ. Diễn viên không được phép ngồi ở cửa miệng Cửu Long, cấm không được gõ bừa vào các khí cụ có tiếng vang như trống đánh, trống nhỏ. Kỵ nói đến những từ không tốt như tản ( 傘 : ô dù), canh ( 更 : canh giờ), mộng ( 夢 : chiêm bao), ở phía sau sân khấu, không được giương ô dù, không được đánh cờ, không được đan tay vào nhau hay ôm đầu gối. Vào ban đêm, kỵ có đi ra mà không quay về. Cấm không được đi ngủ nếu chưa cởi bỏ đồ diễn. Cấm đi tiệm vào ban đêm. Khi đi ngủ, kỵ để mũi giày hướng ra bên ngoài, nếu không, sẽ bị chủ đoàn kịch cho nghỉ làm việc. Trong cuộc sống thường nhật thì cấm không được nuôi bồ câu, nuôi mèo. “Bồ câu” ( 鴿 ge) đồng âm với chữ “gác” ( 擱 gé), e rằng sẽ gây bất lợi cho nghề diễn kịch. Mèo thì ăn thịt chuột, e sẽ gây bất lợi cho chuột. Cấm kỵ gáy nhại theo tiếng gà trống, vì sợ rằng sẽ làm hỏng giọng. Khi ăn cơm, bạn diễn ngồi chung một bàn, không được tự tiện chen vào. Chỉ có vai sửu thì có thể chen vào bàn để ăn. Ăn cơm thì kỵ ăn bánh không nhân, vì cho rằng, nó không có lợi cho đoàn kịch.

Khi diễn tại nhà thì cần chú ý đến những cấm kỵ trong nhà người chủ. Người quản sự sẽ thăm hỏi xem chủ nhà là một nhân vật như thế nào, cấm kỵ những thứ gì, ví dụ như khi vào vương phủ để diễn thì không được mặc đồ màu xanh, vì màu xanh là màu áo của quan lại trong triều đnh. Tên họ, tiểu danh, trác hiệu và cả những chữ mà ông ấy không thích thì cũng không được nói. Gặp khi người ta làm lễ mừng thọ, thì những chữ bất cát bất lợi như “giết”, “chết”, “róc” thì càng phải kiêng tránh. Khi diễn đến đoạn văn xướng mà có những chữ này thì có thể bỏ (hoặc đổi), nếu quả thực tránh không được nữa thì phải cắt bỏ cả một đoạn ấy.

Diễn kịch cũng phải hạn định trong một khoảng thời gian và ở một nơi nhất định. Ở Hà , người ta kỵ diễn vào ngày hắc đạo, mà phải vào ngày hoàng đạo. Ở một số nơi khác còn quy định không được diễn vào tháng nào đó, hoặc vào tháng hai, tháng tám, hoặc vào tháng ba, tháng bảy. Nghe người ta bảo rằng, vào thời gian ấy mà động đến những đồ phát ra tiếng kêu (tức minh khí) thì sẽ mạo phạm đến thiên thần, sẽ gặp phải hung họa, như mưa đá chẳng hạn.

Có một số vai trong kịch bản, theo truyền thuyết thì chính là một người ở nơi nào đó, vì vậy mà, nếu diễn vai ấy ở ngay trên vùng đất ấy thì cần phải chú ý, không được diễn những hý khúc làm thương hại đến tình cảm quần chúng nhân dân. Như trong “Thanh bái loại sao” có nói, vùng Tây Bắc huyện Dương Cốc, Duẫn Châu có mộ, tục gọi là mả cửa tây, theo truyền thuyết thì đó chính là nơi chôn cất của Tây Môn Khánh. Ở vùng này, người ta đều có tục cấm diễn vở “Thủy Hử truyện”; ở nơi nào đó thuộc Đơn Giang Hồ Bắc, truyền thuyết cho đó là quê hương của Trần Thế Mỹ, vì vậy mà ở đây, người ta cấm không được diễn vở “Trác Mỹ án”; ngoài ra, có nơi được xem là quê hương của Quan công thì cấm diễn “Tẩu Mạch thành”; ở Nam Kinh thì cấm diễn vở “Thủ Kim Lăng”…, đều thuộc vào dạng cấm kỵ này. Khi đi diễn, thì không được diễn “Ngũ Lôi trận”, vì cho rằng, Tôn Tẫn là tổ sư của nghề giày dép, nếu trong vở diễn mà có tình tiết Tôn Tẫn bị vây khốn trong Ngũ Lôi trận thì tất sẽ làm thương tổn đến tình cảm của những người theo nghề làm giày dép.

Thời xưa, nghề diễn kịch bị xem là nghề hạ tiện, vì chuyên môn chiều theo thú vui của con người ta. Đời Nguyên, Minh, Thanh, những nghệ nhân này bị cấm không được ứng thí trong chế độ khoa cử.

【#8】Tín Ngưỡng: Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên (Ông/bà

Người Việt Nam thường ngoài tôn giáo riêng của mình, còn thờ phụng tổ tiên, ông bà.

Tương tự như đạo Thờ Thần, không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về thời điểm phát xuất “đạo” thờ cúng Tổ tiên Ông bà ở Việt Nam. Có lẽ đạo thờ cúng Tổ tiên Ông bà bắt đầu phát triển cùng thời với đạo Thờ Thần ở Việt Nam vì tôn chỉ, nghi thức của hai “đạo” có rất nhiều điểm tương đồng.

Cây có gốc, nước có nguồn. Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo phải biết ơn sinh thành. Đã có hiếu với cha mẹ thì phải có hiếu với ông bà – tức là nhớ đến nguồn gốc của mình. Lúc ông bà cha mẹ còn sống thì chăm lo phụng dưỡng, Khi ông bà cha mẹ chết rồi thì phải lo việc thờ phụng để tỏ lòng thành kính biết ơn.

Thật ra, ở Việt Nam, gọi là “đạo” thờ Ông Bà Tổ tiên; nhưng không đúng nghĩa là một “đạo” (cũng tương tự như đạo thờ Thần); bởi vì không có Giáo hội, giáo chủ, giáo sĩ, giáo điều… Đây chỉ là chuyện nội bộ gia đình, con cháu thôi.

Qua việc thờ phụng tổ tiên, người Việt Nam tin là khi chết thể xác tiêu tán nhưng linh hồn thì bất diệt; và người sống và người chết luôn luôn có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ phụng là một cách để giữ gìn mối liên lạc này.

Ông Bà thường được chôn cất gần nhà. Vong hồn Ông Bà được coi như vẫn còn đang sống quanh quẩn nơi bàn thờ.

Phong tục của Việt Nam cho là “Dương sao thì Âm vậy.” Người sống cần gì, thì người chết sống ở “cõi Âm” cũng cần như vậy ! Nói cách khác người chết cũng cần ăn uống, tiêu pha, nhà cửa… như người sống (?). Vì tin như vậy cho nên việc thờ phụng cúng lễ là chuyện cần thiết. Tục người Việt cũng tin rằng vong hồn người chết thường ngự trên bàn thờ để gần gũi với con cháu. Nguời ta sợ tội bất hiếu với vong hồn cha mẹ phải tủi hổ, cho nên người sống phải suy tính kỹ lưỡng, xem như lúc cha mẹ còn sống thì có chấp nhận dự tinh, công việc làm của mình hay không ? Do đó con cái phải ăn ở, thờ phụng cho đứng đắn kẻo mang chữ bất hiếu. Như vậy vong hồn cha mẹ có ảnh hưởng tốt đến hành động và tư cách của con cái.

Những biến cố quan trọng của gia đình từ việc hiếu đến hỷ, gia trưởng phải có lễ cáo gia tiên để xin ông bà tổ tiên chứng giám, chia sẻ, phù hộ.

– Vợ đẻ – Con đầy tháng – Con cái bắt đầu đi học, đi thi, đỗ đạt – Gả chồng, dựng vợ cho con – Công danh thăng tiến (lên chức, đắc cử, lãnh thưởng…) – Khao vọng – Xây cất, mua nhà mới hay sửa chữa tu bổ nhà cũ – Cầu độ

– Trong nhà có người qua đời – Có người đau ốm – Phải đi xa – Gặp chuyện không may (buôn bán thua lỗ, bị kiện cáo)…

Trong nhà, bàn thờ tổ tiên kê ngay ở chính giữa nhà. Nhà giàu thì đóng bàn thờ sơn son thếp vàng. Ở vùng quê xa xôi, các gia đình nghèo không thể lập một bàn thờ qui củ để thờ đúng theo cổ tục thì họ chỉ đóng một cái trang trên tường hay thu xếp một cái tủ nhỏ làm bàn thờ để tiện việc cúng lễ.

Bàn thờ tổ tiên cũng được trang trí tùy theo mỗi gia đình. Đại cương thì có bình hương, bài vị, đèn nến, mâm bồng (để bày hoa quả bánh trái)… nhà giàu sung túc sẽ bày thêm đỉnh đồng (bộ tam sự, ngũ sự, thất sự… – số lẻ chỉ về âm), bình sứ, bảo lộ (tám thứ binh khí của quân sĩ thời xưa), hoành phi, y môn (che ngăn cách bàn thờ với khoảng không gian bên ngòai), câu đối…

Là ngày kỷ niệm người chết đã qua đời – còn gọi là ngày kỵ nhật. Con cháu dù bận rộn cũng phải nhớ ngày này để cúng giỗ. Nhiều tôn giáo chỉ làm lễ kỷ niệm ngày chết, làm giỗ nhưng không “cúng” theo cổ tục thờ cúng tổ tiên.

Trong ngày giỗ, tùy hoàn cảnh, gia đình làm cỗ bàn to hay nhỏ mời thân bằng quyên thuộc tham dự. Nhiều khi cũng tùy sự liên hệ giữa người sống và người chết mà sẽ làm giỗ to hay nhỏ: cha mẹ, ông bà thì giỗ to; chú bác, cao tằng khảo, tỷ thì chỉ cúng đơn sơ.

Trong ngày giỗ còn phân biệt giỗ đầu (một năm sau khi người chết qua đời, hay Tiêu tường). Giỗ đầu, con cháu nhiều khi phải mặc lại đồ tang như chính ngày đưa đám. Nhà khá giả rước cả phường bát âm, phường kèn, mời chẳng những bà con mà lại cả khách xá nữa; hoặc giỗ sau (giỗ cuối, hết tang, còn gọi lả giỗ hết hay Đại tường)…

Hóa vàng có nghĩa là “nấu vàng,” tức là đem đốt những đồ vàng mã, vàng giấy, tiền giấy. Sau khi hóa vàng thì con cháu đổ một chén rượu cúng vào đám lửa, cốt để biến vàng mã trên dương gian thành đồ dùng thật dưới âm phủ! Sau khi hóa vàng thì xem như giỗ đã xong.

Với văn minh tiến bộ ngày nay người ta bỏ bớt việc đốt vàng mã tức là: áo quần, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc bằng giấy; (có khi đốt cả hình người nữa ?! Vì người Tầu cho rằng đốt hình người để dưới âm phủ Ông Bà có người hầu hạ ??)

Ngày giỗ Họ (giỗ Tổ của Họ), Nhà Thờ Tổ

Ngày giỗ Họ là ngày duy nhất trong năm để cho cả họ họp mặt, nhận ra nhau. Trong dịp này những người cao niên sẽ kể các công trạng, sự nghiệp của ông tổ cho con cháu nghe.

Người trưởng tộc lo việc tổ chức giỗ Tổ. Các gia đình các ngành đều phải đóng góp công của. Người trưởng tộc cũng được hưởng hương hỏa của tổ tiên đế lại.

Đất hương hỏa ông bà để lại là những phần đất dành để lấy hoa lợi lo việc cúng giỗ. Con cháu không được bán. Rủi có bị tịch biên, chủ nợ cũng không được lấy phần này. Thường ruộng hương hỏa còn gọi là kỵ điền – là ruộng để giỗ. Đất này do tự người có giỗ lấy tài sản của mình mà đặt, hoặc có di chúc của tổ tiên dành cho con cháu…

Do ý thức hệ luân lý gia đình, phong tục Việt Nam đặt vấn đề đất hương hỏa rất quan trọng. Ngay cả pháp luật của các triều đại, các chế độ đều nhằm bảo vệ đất hương hỏa.

Tóm lại, nước Việt đã trải qua biết bao nhiêu cuộc hưng vong phế chuyển nhưng việc Thờ Cúng Ông Bà vẫn còn tồn tại. Người Việt đã theo nhiều tôn giáo ngoại nhập khác nhau nhưng cũng không bao giờ vì tôn giáo riêng của mình mà bỏ quên tổ tiên.

Tất cả các chuyện xảy ra cho gia đình trong đời sống hàng ngày Ông Bà Tổ tiên đều được nhớ đến, và khấn vái xin phù hộ.

Theo truyền thống xưa, sau khi mời Tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu vào ngày 30 Tết (nếu tháng thiếu thì vào ngày 29 Tết), đến ngày mùng 3 Tết hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết, là ngày cuối cùng, tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên trở về âm cảnh.

Lễ này, tục gọi là “đưa ông bà”, lễ hóa vàng cho Tổ tiên, hay lễ tạ năm mới.

Theo GS sử học Lê Văn Lan, mùng 3 vẫn là ngày Tết thầy, nên để tổ tiên vẫn ở lại ăn Tết với con cháu. Mùng 4 và mùng 5 mới là ngày tiễn các cụ về cõi vĩnh hằng.

GS Lan cho biết, tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới bên kia sống gần với dương gian. Tục này nhằm cung cấp cho người đã khuất tiền, quần áo (giấy), gậy đi đường (cây mía).

“Các cụ về trời chỉ cần ít quần áo, vật dụng đi đường cùng 5-10 nghìn đồng”, ông Lan bày tỏ.

Theo một số chuyên gia văn hóa phương Đông, việc chọn ngày làm lễ hóa vàng tùy thuộc vào mỗi gia đình, chủ yếu từ mùng 3 đến khoảng mùng 10 Tết Nguyên đán. Điều quan trọng nhất là phải có lễ tạ gia tiên, gia thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

Sau khi lễ, các gia chủ sẽ hóa vàng. Phần tiền, vàng của gia thần phải hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau. Tục xưa, tại nơi đốt vàng mã, người ta thường đặt vài cây mía dài. Dân gian cho rằng đây là đòn gánh để các linh hồn dùng làm gậy chống, hay mang hàng hóa.

Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm: Nhang, hoa, ngũ quả, trầu cau, rượu, đèn nến, bánh kẹo, mâm lễ mặn hoặc chay cùng các món ăn ngày Tết đầy đủ, tinh khiết.

Văn khấn lễ tạ năm mới (lễ hóa vàng)

  • Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)
  • Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương
  • Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, Long Mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần
  • Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ. Chư vị Tôn thần
  • Con kính lạy Ngài Đương niên hành khiển, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long mạch Tôn thần.
  • Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.

Hôm nay là ngày mùng 3 tháng giêng năm …………………….

Chúng con là: ……………………………tuổi………………

Hiện cư ngụ tại ………………………………………………

Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cung bày trước án. Kính cẩn thưa trình: tiệc xuân đã mãn, Nguyên đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn âm linh trở về âm cảnh.

Kính xin lưu phúc, lưu ân, phù hộ độ trì dương cơ âm trạch, mọi chỗ tốt lành, con cháu được bách sự như ý, vạn sự bình an, tài lộc song toàn, gia đạo hưng vượng.

Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)

“…Trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ ăn chay, thanh tịnh”, nhà nghiên cứu Vũ Thế Khanh chia sẻ.

Phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt, đã được hình thành từ rất lâu đời. Phong tục ấy không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ. Việc cùng nhau bày tỏ lòng thành kính trước tổ tiên, các thành viên trong gia đình càng thắt chặt thêm sợi dây huyết thống.

Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, Tiến sĩ Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA, gọi tắt là UIA, lại có một góc nhìn khác khi cho rằng từ bấy lâu nay người ta vẫn chưa hiểu hết về phong tục tốt đẹp này.

Phong tục bắt nguồn từ nỗi lòng muốn báo hiếu tổ tiên

Tiến sĩ Khanh cho biết, để làm rõ hơn về phong tục cúng tổ tiên, bạn đọc trước tiên cần biết về khái niệm “thần thức”. Qua 20 năm nghiên cứu với hàng vạn ca khảo nghiệm, UIA cho rằng khả năng ngoại cảm của con người là có thật. Nói cách khác, những người tham gia nghiên cứu Chương trình khảo nghiệm cho rằng người ta khi chết đi thì vẫn còn lưu lại phần “thần thức”. Điều này trùng hợp với quan điểm của đạo Phật về thuyết luân hồi, cho rằng con người phải trải qua nhiều kiếp trước khi đến với miền cực lạc.

“Và với phong tục đẹp đẽ thờ cúng tổ tiên, dù vô tình hay hữu ý, chúng ta đều đã chấp nhận phần “thần thức” ấy song hành trong thế giới đương đại. Dựa trên những cơ sở này, Chương trình khảo nghiệm đã phát triển thêm một hướng mới. Qua hàng trăm ca giao lưu điển hình, những người nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhu cầu, ước muốn của phần “thần thức” và đặc biệt trong phong tục cúng lễ, đã có những phát hiện rất lý thú”, tiến sĩ Khanh nói.

Theo nhà nghiên cứu này: “Con người ta sinh ra, ai mà không có ông bà cha mẹ, cao hơn nữa là tổ tiên dòng tộc. Kể từ 9 tháng 10 ngày hoài thai đến khi ra đời rồi được nuôi nấng lớn khôn, con cái đã được các bậc sinh thành dành cho biết bao là yêu thương, công sức. Gia tiên tiền tổ nuôi dưỡng cháu con nhưng không bao giờ quá cần thiết sự đền đáp trở lại.

Vậy trong đời này, với công ơn sinh thành dưỡng dục, phận làm con cháu biết trả thế nào cho đủ? Cho đến khi các đấng sinh thành khuất núi, nhiều con cháu vẫn trăn trở vì chưa thỏa được nỗi lòng muốn báo hiếu mẹ cha. Và phong tục cúng lễ chính là sự tiếp nối ước vọng ấy dâng lên tiên tổ”.

Những người nghiên cứu trong Chương trình khảo nghiệm đã đưa ra khái niệm rằng với phần “thần thức” của gia tiên, cần phải đền đáp bằng cách “vay cá trả cần câu”: Cha mẹ cho con cái sinh mệnh, nhưng con cái không thể dùng sinh mệnh để hoàn trả được. Như thế, vay cá nhưng không thể trả bằng cá. Vả lại “vay cá trả cá” là lẽ thường tình. Vay cá và trả lại bằng cần câu, mới là cách đền đáp công ơn trọn tâm vẹn ý. Họ thống nhất rằng cúng lễ bằng phương pháp “cúng tâm linh” chính là “chiếc cần câu” để phần “thần thức” của gia tiên tiền tổ tìm về được miền cực lạc.

Cúng đồ mặn hay đồ chay?

Nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này, ông Khanh cho rằng mình đã có những trải nghiệm lạ. Vị tiến sỹ này chia sẻ rằng qua hàng vạn ca khảo nghiệm, ông đã rất ngạc nhiên khi phát hiện có tới 80% đối tượng tội phạm có xuất thân từ những gia đình có nguồn gốc làm nghề bất lương. Có thể ví dụ như buôn bán ma túy, hành nghề cờ bạc hoặc làm giàu trên thân xác phụ nữ.

Theo ông, ở những gia đình đó, phần “thần thức” của gia tiên luôn bị ảnh hưởng bởi môi trường không lành mạnh, dù có cúng bái bằng mâm cao cỗ đầy đến đâu, cũng không thể siêu thoát. “Âm không siêu thì dương không thái”, vì thế trước hay sau, những gia đình đó cũng gặp những tai họa khó lường.

Tiếp theo nhận định đó, ông Khanh cho rằng phong tục thờ cúng tổ tiên trong nhiều gia đình hiện nay chưa thực sự đúng cách. Qua tiếp xúc với nhiều gia đình, những người nghiên cứu trong chương trình này nhận thấy mâm cúng có nhiều đồ rượu, thịt sẽ khiến phần “thần thức” trở nên “nghiện” các thứ đó.

“Cần giải thích thêm rằng “thần thức” khi mới hình thành thường rất non yếu, không có khả năng tự chủ. Lúc ấy, nếu các gia đình dùng những đồ cúng có nguồn gốc tanh hôi, sẽ vô tình làm cho “thần thức” của gia tiên rời xa khỏi sự thanh tịnh”, ông Khanh nói. Ông Khanh lấy ví dụ ở những đám cúng giỗ lớn, rượu thịt ê hề nhưng vẫn hay xảy ra va chạm, cự cãi, thậm chí có thể đâm chém nhau. Là bởi đám cúng giỗ đó sẽ quy tụ các phần “thần thức” ưa thích tanh hôi, có “tác dụng ngược”, gây nên sự nóng nảy vô cớ, thiếu kiềm chế của những người tham gia bàn tiệc.

“Vậy nên trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ ăn chay, thanh tịnh”, nhà nghiên cứu này nói. Ông Khanh diễn giải việc đó gọi là “phạm thực” chuyển thành “hỷ thực”. Nên thay thế những đồ ăn tanh hôi bằng đồ chay và một không khí thanh tịnh. Ví dụ như khi ta đang đói bụng, nếu nghe được một tin rất vui, cảm giác đói trước đó có thể dễ dàng tan biến. Phần “thần thức” cũng như vậy. Làm quen với môi trường thanh tịnh, được kính ngưỡng bằng những đồ “hỷ thực”, chính là cách tiếp thêm năng lượng tinh thần, để phần “thần thức” vượt lên một bậc mới.

Nhưng đồ cúng lễ thanh tịnh thôi chưa đủ. Những người nghiên cứu trong chương trình này đề cao nhất cách thức dùng phương pháp nhà Phật để kính ngưỡng gia tiên. Cùng với kinh chú tốt lành, con cháu tham gia cúng lễ phải thật sự chay tịnh, thả tâm hồn rời bỏ “tham, sân, si”, chỉ một lòng hướng về gia tiên tiền tổ. Nhiều cuộc khảo nghiệm đã chỉ ra rằng phần “thần thức” chỉ thực sự hoan hỷ với những người thành tâm cúng lễ là con hiền, dâu thảo, cháu ngoan.

Trải qua nhiều lần được tắm mình trong “hỷ thực” và môi trường thanh tịnh như thế, phần “thần thức” của gia tiên sẽ dần được nâng về miền cực lạc. “Trong niềm kính ngưỡng với gia tiên, việc cúng lễ một cách đúng đắn, chính là cách để đền đáp công ơn trời biển của các đấng sinh thành”, ông Khanh kết luận

【#9】Vũ Linh Thiên Hạ Chương 1951: Tử Vân Cung Chi Biến (Canh Ba)

Chương 1951: Tử Vân Cung chi biến (canh ba)

Tử Vân Cung, vô biên vô hạn to lớn bên trong khu cung điện, một luồng vô cùng quỷ dị bầu không khí, bao phủ toàn bộ thập đại cung điện, cùng với Tử Vân Cung to to nhỏ nhỏ cung điện, có thể nói, hôm nay Tử Vân Cung, cùng dĩ vãng Tử Vân Cung, nhưng là có quá tốt đẹp đại không giống.

Cùng dĩ vãng ra ra vào vào, bầu không khí nhiệt liệt tình huống không giống nhau, bây giờ Tử Vân Cung, trên căn bản không nhìn thấy mấy người ở bên ngoài hoạt động, mà mỗi một cái cung điện, lúc này đều là đại cửa đóng chặt, một bộ hoàn toàn tách biệt với thế gian dáng vẻ.

Rất rõ ràng, Tử Vân Cung bên trong, tuyệt đối là có một ít không muốn người biết tình huống phát sinh.

Một vệt sáng từ đàng xa chân trời cấp tốc lướt tới, thời gian không lâu, ánh sáng chính là ở Tử Vân Cung bầu trời cách đó không xa ngừng lại, đợi được ánh sáng tiêu tan sau khi, một người tuổi còn trẻ nam tử thân hình, chính là từ từ ngưng tụ lên. Mà vào lúc này xuất hiện ở Tử Vân Cung bầu trời, ngoại trừ mới vừa từ Khinh Vũ Cung chạy về Nguyên Phong ở ngoài, lại sẽ có người nào?

“Ô, rốt cục trở về a, Tử Vân Cung, cũng thật là lâu không gặp đây!!!”

Nguyên Phong thân hình ở Tử Vân Cung ngoại vi đứng lại, nhưng là trước tiên nhìn lướt qua Tử Vân Cung toàn thể tình huống, chỉ là, đợi được hắn đem toàn bộ Tử Vân Cung thu hết đáy mắt thời gian, một tia vẻ ngạc nhiên nghi ngờ, không khỏi ở trên mặt của hắn hiện ra.

“Ồ? Tình huống thế nào? Tại sao có thể có như vậy nồng nặc huyết tinh chi khí? Lẽ nào Tử Vân Cung có đại sự gì phát sinh sao?”

Ánh mắt ở toàn bộ Tử Vân Cung mặt trên nhìn quét một lần, Nguyên Phong nhưng là đột nhiên cảm giác được, lúc này Tử Vân Cung, khắp nơi đều đang có nồng đậm huyết tinh chi khí bồng bềnh, loại cảm giác đó, lại như là Tử Vân Cung ở trong vừa tiến hành rồi một trận đại chiến như thế.

“Chuyện này… Đến tột cùng là chuyện gì xảy ra? Tại sao có thể có như vậy dày đặc huyết tinh chi khí, chẳng lẽ có người đánh vào Tử Vân Cung sao? Thật giống không có khả năng lắm đi!”

Hai mắt híp lại, Nguyên Phong tâm tư hơi động, nhưng là trước tiên đem tâm thần chìm vào đến lòng bàn tay của chính mình ở trong, tìm tới mấy cái chính mình ở Tử Vân Cung ở trong khống chế thuộc hạ người.

Khoảng thời gian này tới nay, hắn trên căn bản đều đang bận rộn chuyện của chính mình, căn bản chưa từng thông qua chính mình khống chế người, hiểu rõ Tử Vân Cung tình huống, mà trước mắt nhìn thấy Tử Vân Cung dĩ nhiên cùng ngày xưa như vậy không giống, hắn tự nhiên là muốn trước tiên xem rõ ngọn ngành.

Rất nhanh, bị hắn khống chế một cái Tử Vân Cung cường giả, chính là bị hắn tỉnh lại, mà đối với Tử Vân Cung khoảng thời gian này tới nay phát sinh tình huống, hắn cũng lập tức liền là hiểu rõ một chút.

“Thập đại cung điện các đệ tử khai chiến? Chuyện này…”

Chờ đến đối với Tử Vân Cung gần nhất đã phát sinh tình huống có hiểu biết thời gian, Nguyên Phong đáy mắt, nhưng là càng ngày càng nghi ngờ không thôi lên.

Căn cứ thuộc hạ người báo cáo, trước đây không lâu, Tam Tài Điện đệ tử Lý Tiếu Bạch, nhưng là vô cớ chém giết Lục Hợp Điện một vị đệ tử đích truyền, còn đối với này, Lục Hợp Điện đại đệ tử Vương Chung tự nhiên là không thể tiếp thu, sau đó chính là tìm tới Lý Tiếu Bạch, thề muốn cùng đối phương một quyết thư hùng.

Ở rất nhiều Tử Vân Cung đệ tử cộng đồng chứng kiến bên dưới, Vương Chung cuối cùng nhưng là thua ở Lý Tiếu Bạch trong tay, hơn nữa còn bị thương không nhẹ, sau đó, Tam Tài Điện đệ tử chính là càng ngày càng trở nên kiêu ngạo, ngăn ngắn mấy tháng trong lúc đó, không chỉ Lục Hợp Điện đệ tử lần nữa bị bọn họ tàn sát, liền ngay cả cái khác mấy cái cung điện người cũng bị bọn họ chém giết không ít.

Cuối cùng, Ngũ Hành Điện Kiều Khả nhưng lại là rốt cục đứng dậy, đồng thời cùng Lý Tiếu Bạch ước chiến một hồi. Trận chiến đó, Lý Tiếu Bạch tuy rằng chiếm cứ ưu thế tuyệt đối, nhưng cuối cùng cũng không thể đem Kiều Khả có thể đánh bại, kết quả chính là toán làm thế hoà. Bất quá, tuy rằng chiến đấu xem như là thế hoà, nhưng đại gia cũng nhìn ra được, luận đến lực công kích, thân cư cảnh giới pháp kiếm bực này kiếm kỹ Lý Tiếu Bạch, nhưng là muốn so với Kiều Khả có thể dũng mãnh đến hơn nhiều.

Có thể nói, Lý Tiếu Bạch trọng thương Vương Chung, chiến bình Kiều Khả có thể, này trên căn bản chính là đặt vững hắn Tử Vân Cung mạnh nhất đệ tử địa vị, duy nhất một cái có thể với hắn đối lập Bát Quái Điện đại đệ tử Huyền Minh, nhưng là vẫn luôn duy trì trung lập, cũng không có tham dự đến trong đó, cũng không có đối với Lý Tiếu Bạch hung hăng hành vi tiến hành ngăn cản.

Đến hiện tại, trên căn bản chính là hình thành lấy Tam Tài Điện dẫn đầu, Tứ Tượng Điện, Cửu Cung Điện, Thập Phương Điện là phụ đoàn thể nhỏ, xong ngược Nhất Nguyên Điện, Lưỡng Nghi Điện, Ngũ Hành Điện, Lục Hợp Điện, Thất Tinh Điện liên hợp lại đoàn thể nhỏ, mà Bát Quái Điện vẫn luôn là không đếm xỉa đến, nhưng là rất nhiều bất cứ lúc nào đứng ở Tam Tài Điện vừa tư thế.

Cho đến ngày nay, Nhất Nguyên Điện, Lưỡng Nghi Điện, Ngũ Hành Điện, Lục Hợp Điện cùng với Thất Tinh Điện, đã có không ít đệ tử gặp phải Lý Tiếu Bạch độc thủ, nhưng là không có một người có thể đứng ra ngăn cản đối phương.

Dựa theo đại gia suy đoán, ngày đó trận chiến đó, e sợ Kiều Khả nhưng cũng là bị thương, chỉ có điều Lý Tiếu Bạch ngày đó phán đoán sai lầm, lúc này mới không có thể kiên trì đến cuối cùng, ở trên sàn nhảy đánh thắng đối phương.

“Tại sao có thể có chuyện như vậy phát sinh? Thập đại cung điện, này không phải tất cả đều rối loạn sao? Tại sao, tại sao thập đại điện chủ không đứng ra quản một ống? Lẽ nào trong này còn có cái gì ẩn tình hay sao?”

Chờ đến đem gần nhất tình huống đơn giản hiểu rõ một phen sau khi, Nguyên Phong là thật sự bị trước mắt Tử Vân Cung tình huống cho khiếp sợ đến.

Hắn thực sự là không hiểu nổi, khỏe mạnh Tử Vân Cung, làm sao lại đột nhiên tự giết lẫn nhau lên cơ chứ? Đương nhiên, Tử Vân Cung thiên tài vô số, ai trong lòng đều sẽ không phục ai, tự giết lẫn nhau cũng không phải cái gì khó có thể tiếp thu sự tình, có thể để hắn không hiểu nổi chính là, vì sao Tử Vân Cung đệ tử đích truyền môn nháo thành như vậy, nhưng Tử Vân Cung Bán thần cảnh cường giả, nhưng là không có một người đứng ra quản một ống.

“Trong này nhất định còn có càng to lớn hơn ẩn tình, mặc kệ, vẫn là trước về Lục Hợp Điện nói sau đi, Đại sư huynh bị trọng thương, cũng không biết tình huống bây giờ làm sao.”

Đối với Tử Vân Cung là còn có hay không càng to lớn hơn tình huống phát sinh, vậy thì không phải hắn những kia cái thuộc hạ người có khả năng hiểu rõ, nhưng nghĩ đến Lục Hợp Điện đại đệ tử Vương Chung các loại (chờ) người, hẳn là có hiểu biết mới là.

Mặt khác, Vương Chung giờ khắc này có vẻ như bị trọng thương, hắn cũng nhất định phải mau đi trở về nhìn, tuyệt đối không thể làm lỡ đại sự.

Nghĩ tới đây, hắn nhưng là không chần chừ nữa, thân hình hơi động trong lúc đó, chính là thẳng đến Tử Vân Cung phi vút đi.

Bởi tình huống cũng không sáng láng, hắn vào lúc này cũng không dám dễ dàng để tâm thần đi tra xét Tử Vân Cung tình huống bên trong, còn nữa nói, Tử Vân Cung những kia Bán thần cảnh các cường giả, bình thường cũng không biết đều tàng đến nơi nào, tra xét cũng chưa chắc tra xét được.

Thân hình lấp lóe trong lúc đó, Nguyên Phong rất nhanh chính là đi tới Tử Vân Cung cửa lớn vị trí, mà đến Tử Vân Cung cửa lớn thời gian, hắn phát hiện, vào lúc này Tử Vân Cung, thậm chí ngay cả thủ vệ người đều không có.

“Ai, không nghĩ tới, Tử Vân Cung nội đấu, đều đang có thể diễn biến đến trình độ như thế này, xem ra lần này tình huống cũng thật là không đơn giản a!”

Lắc đầu thở dài, Nguyên Phong trong bụng không khỏi có chút thổn thức. To lớn Tử Vân Cung, dĩ nhiên cũng sẽ phát sinh loại này khiến người ta khó hiểu việc, đối với này, hắn thực sự là không biết nên nói cái gì cho phải.

“Vèo vèo vèo!!!!”

Ngay khi Nguyên Phong tâm trạng suy nghĩ những này, đồng thời quay về trong môn phái bước đi thời gian, từng tiếng tiếng xé gió, nhưng là đột nhiên từ phía sau hắn truyền đến, tựa hồ là có người vừa vặn từ bên ngoài chạy về.

“Hả? Có người từ bên ngoài trở về?” Nghe được tiếng xé gió, Nguyên Phong không khỏi nhíu nhíu mày, sau đó chính là xoay người lại, nhìn về phía phía sau người đến.

“Xoạt xoạt xoạt!!!!”

Đang khi nói chuyện công phu, ba nam tử thân hình, chính là xuất hiện ở Nguyên Phong trước, mà đối với này ba nam tử, Nguyên Phong ngờ ngợ đúng là có chút ấn tượng, nhưng ba người này cụ thể là người nào, lại là người nào cung điện, hắn nhưng là có chút không nhớ ra được.

“Ha ha ha, hai vị sư đệ, mau nhìn mau nhìn, nhìn chúng ta đụng tới ai? Này không phải Lục Hợp Điện vị thiên tài kia đệ tử sao? Tên gì tới? Đúng đúng đúng, Nguyên Phong, Lục Hợp Điện đệ tử thiên tài Nguyên Phong a!”

Ngay khi Nguyên Phong nhìn thấy ba nam tử ở trước mặt chính mình đứng lại, đồng thời vừa muốn tiến lên cùng ba người chào hỏi thời gian, ba người ở trong một người tuổi còn trẻ nam tử, nhưng là đột nhiên tiến lên một bước, thả tiếng cười dài lên.

“Hả? Đúng là lúc trước một tiếng hót lên làm kinh người Lục Hợp Điện Nguyên Phong, ha ha ha, được được được, này cũng thật là đạp phá thiết hài vô mịch xử, chiếm được toàn không uổng thời gian a, đang lo không có ai để huynh đệ chúng ta lập công đây, chuyện này quả thật chính là trời cao chăm sóc a!”

“Không tồi không tồi, giết Lục Hợp Điện mấy cái đệ tử đích truyền đều không có tác dụng gì, nhưng cái này Nguyên Phong, nhưng là cảnh giới pháp kiếm thiên tài, làm thịt hắn, Lý sư huynh nhất định sẽ tầng tầng có thưởng.”

“Còn chờ cái gì, nhanh đưa người vây quanh, không nên để cho hắn chạy mất.”

Ba nam tử nói chuyện, chính là dồn dập thân hình lấp lóe, vội vội vàng vàng mà đem Nguyên Phong vây vào giữa, thật giống chỉ lo Nguyên Phong chạy mất như thế.

Bọn họ đều là Tam Tài Điện trận doanh, ở trong tay bọn họ, cũng đều nhiễm phải Lục Hợp Điện trận doanh người máu tươi, mà đến hiện nay, hai đại trận doanh thù hận đã càng kết càng sâu, chỉ cần đối phương trận doanh có người lạc đàn, trên căn bản chính là sẽ không có cái gì tốt kết quả.

Mà đối với Nguyên Phong cái này Lục Hợp Điện đệ tử thiên tài, toàn bộ Tử Vân Cung nhưng là không có ai không quen biết, trước mắt ba người phát hiện Nguyên Phong, quả thực có loại bị trên trời rớt xuống đại đĩa bánh đập trúng cảm giác.

Đánh giết một ít phổ thông đệ tử ký danh, thực sự là không có bất kỳ ý tứ, nhưng nếu như có thể đem Nguyên Phong đánh giết, vậy coi như thật sự lập công lớn. Người nào không biết, Lục Hợp Điện thu rồi một cái đáng sợ thiên tài, chỉ có điều, tối gần thời gian mấy năm, đại gia đều chưa từng từng thấy Nguyên Phong lộ diện, đối với này, tất cả mọi người là cho rằng đối phương đã đóng tử quan, chuyên tâm tu luyện đi tới đây!

Trước mắt, bọn họ dĩ nhiên nhìn thấy Nguyên Phong, này không phải trúng số độc đắc lại là cái gì? Chỉ cần giết Nguyên Phong, như vậy Lục Hợp Điện duy nhất một cái uy hiếp chính là không còn tồn tại nữa, nghĩ đến coi như là Lý Tiếu Bạch, đều sẽ vô cùng cảm kích bọn họ.

“Hả? Lại bị vây quanh?”

Nguyên Phong vào lúc này vẫn chưa hoàn toàn phục hồi tinh thần lại, chỉ là, đợi được ba nam tử đem chính mình bao vây vào giữa, đồng thời từng cái từng cái hiển lộ ra sát ý thời gian, hắn giờ mới hiểu được, có vẻ như trước mắt ba tên này, dĩ nhiên là muốn lấy mạng của hắn a!

Lâu như vậy không có về Tử Vân Cung, sau khi trở về, nghênh tiếp hắn dĩ nhiên là như vậy một phần bữa tiệc lớn, đối với này, hắn cũng thật là không biết nói cái gì cho phải.

Giao diện cho điện thoại

【#10】17 Bài Văn Tế Thập Loại Cô Hồn Dành Cho Chẩn Tế

Đầy đủ 17 bài văn tế thập loại Cô Hồn dành cho chẩn tế âm linh cô hồn, chiến sĩ trận vong, đồng bảo tử nạn, chiêu hồn, giải oan bạt độ, cúng tế thí thực.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Đản tiết nên quy,

Trước Đàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Đàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Đạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Đàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Đem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Độ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

Ngạ quỷ đói

SÁM TRIỆU CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Địa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Đừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Độ Đế Rị Già Rị Đa Rị Đát Đa Nga Đa Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Đường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Đàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Đã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Đã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Đem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp càu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Đem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Đòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 4)

TRÀ AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Đã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Đừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Đà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Đấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Đất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Đống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Đổi dời lừa tráo hơn thua,

Đào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Đêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Độ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Đèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Địa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Đời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Đoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Đời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Đời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Đương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Độ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Điện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Đức Địa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Độ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Để tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Đế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Đà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG

ĐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Đai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Đêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Đánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Đêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Đến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Đèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Đến khi trăm tuổi mạng chung

Được về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Đà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Đài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Đạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Đành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Đấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II)

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Đau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Đã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Địa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Đã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Để mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Đem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Đại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Địa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Đà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Độ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Đưa vong khỏi biển ba đào,

Đến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Địa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Độ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Độ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Độ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

SÁM TÁN KHÔ LÂU

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Đại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Đau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Đôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Đạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre

TRẠO VĂN DIỄN ÂM

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Độ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Điềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Đau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Đánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Đến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Đốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Đường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Đà Phật Bồ Đề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Đường mê trông thấy nhãn tiền,

Đắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Đây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Định soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Đàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Đôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Đà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Đầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Đền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Đỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Đất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Đất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Đường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Đông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Đêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Đường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Đêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Đà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.