Top 4 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Trung Thu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Trung Thu

Tết trung thu hay còn gọi là tết đoàn viên, là dịp để mọi người quây quần bên nhau, chia sẻ và yêu thương nhau nhiều hơn. Trong ngày tết đặc biệt này không thể thiếu đi bánh dẻo, bánh nướng, hạt dưa, hạt bí, và tất nhiên, quan trọng nhất là phải có mâm ngũ quả.

Nguồn gốc của mâm ngũ quả Mâm ngũ quả đã có từ rất lâu đời, tuy nhiên không phải ai cũng biết nguồn gốc của mâm quả đặc biệt này. Thực ra, mâm ngũ quả ra đời là dựa theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất đều được tạo nên bởi năm yếu tố là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Một mâm có năm loại quả là tượng trưng cho sự đủ đầy, yên ấm.Ngoài ra, theo một số nghiên cứu, số năm của mâm ngũ quả là con số chỉ sự trung tâm, là con số của sự sống. “Quả” được cho là biểu tượng của sự sung túc, là biểu thị của tín ngưỡng phồn thực, tượng trưng cho ý nguyện sinh sôi nảy nở và duy trì nòi giống. Chính vì vậy mà mâm ngũ quả đã ra đời để thể hiện ý nguyện cầu hòa, an, đủ của người dân Việt Nam ta.Ý nghĩa mâm ngũ quả trong ngày tết trung thu Mang ý nghĩa chung là thế nhưng mâm ngũ quả ở từng vùng miền lại không giống nhau và mỗi vùng lại mang một ý nghĩa khác.Ở miền Bắc Mâm ngũ quả bao gồm chuối, bưởi, đào, hồng, quýt. Người miền Bắc sẽ đặt nải chuối ở giữa để đỡ lấy toàn bộ các trái cây khác và chuối thể hiện sự che chở của đất trời cho con người. Tiếp theo, chính giữa nải chuối là quả bưởi và đào, hồng, quýt đặt ở xung quanh. Có thể thay thế bưởi bằng quả phật thủ cũng được. Còn lại những chỗ khuyết thì đặt xen kẽ quýt vàng, táo xanh hoặc ớt đỏ. Ngày nay thì nhiều người thường chọn những loại trái cây có nhiều màu sắc khác nhau, tuy nhiên tất cả đều nhằm để cầu tiền tài, sung túc và ấm no.

Ở miền Trung Mâm ngũ quả của người miền Trung thì thường không quá cầu kì, có gì cúng nấy vì đặc điểm của mảnh đất miền Trung là thời tiết khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi và còn ít hoa trái, thường có nhiều nhất là: đu đủ, xoài, mãng cầu, sung, chuối… Cách sắp xếp mâm ngũ quả cũng tùy thuộc vào sự sáng tạo của mỗi người và thành kính dâng lên tổ tiên để cầu được bình an, may mắn trong cuộc sống.Ở miền Nam Người miền Nam rất coi trọng phong tục thờ cúng và mâm ngũ quả vì thế cũng được chuẩn bị khá cầu kì. Trên mâm ngũ quả của người dân miền này thường có đu đủ, mãng cầu, dừa, xoài, sung, được hiểu là “Cầu sung vừa đủ xài”. Đặc biệt, mâm ngũ quả phải có chân đế là 3 trái dứa thể hiện sự vững vàng và một cặp dưa hấu tượng trưng cho lòng trung nghĩa của người phương Nam.Mặc dù ở mỗi vùng miền lại có sự khác nhau về các loại quả và cách sắp xếp mâm ngũ quả ngày tết trung thu nhưng hàng trăm năm nay, mâm ngũ quả đã trở thành một nét đặc trưng trong phong tục của người Việt Nam. Mâm ngũ quả là cách để người Việt thể hiện tấm lòng, sự tôn kính của mình đối với tổ tiên và cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và dòng họ mình.

Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Ở Miền Trung Và Ý Nghĩa Của Từng Loại Quả

Người dân khúc ruột miền Trung với tình nghĩa đôn hậu, nên mâm ngũ quả ngày Tết của người miền Trung cũng không quá cầu kỳ và câu nệ. Mặt khác, do chịu sự giao thoa văn hóa hai miền Bắc – Nam nên mâm ngũ quả của người miền Trung bày biện đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài…

Mâm ngũ quả ngày tết của người miền Trung được bày trí thế nào?

Mâm ngũ quả là mâm quả gồm 5 loại khác nhau, mỗi loại tượng trưng cho một ước nguyện của gia chủ, thông qua tên gọi và màu sắc. Ngoài ra, “ngũ” còn thể hiện ước muốn của người Việt đạt được ngũ phúc lâm môn: Phúc, quý, thọ, khang, ninh.

Tùy theo từng vùng miền với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng mà người ta chọn các loại quả khác nhau để bày mâm ngũ quả.

Ý nghĩa của một vài loại quả thường được bày trên mâm ngũ quả miền Trung

Mỗi loại quả đều có mùi vị, màu sắc riêng và cũng mang những ý nghĩa nhất định.

Lê (hay mật phụ), ngọt thanh ngụ ý việc gì cũng trơn tru, suôn sẻ.

Lựu, nhiều hạt, tượng trưng cho con đàn cháu đống.

Đào thể hiện sự thăng tiến.

Mai, do điển phiếu mai, con gái phải có chồng, hạnh phúc, không cô đơn.

Phật thủ giống như bàn tay của Phật, chở che cho con người.

Táo (loại trái to màu đỏ tươi) có nghĩa là phú quý.

Hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt.

Thanh long – ý rồng mây gặp hội.

Mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trong ngày tết cổ truyền của người Việt Nam. Trước là thờ cúng tổ tiên, sau là ước mong năm mới được an khang, thịnh vượng hơn năm trước. Mỗi loại quả khi bày trên bàn thờ đều có ý nghĩa riêng, để gửi gắm ước nguyện, cầu mong của mình trong năm mới.

Dù là loại quả gì, mâm ngũ quả vẫn mang một ý nghĩa chung: Dâng cúng tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo và ước mong những điều tốt lành trong gia sự của người miền trung còn nhiều khó khăn.

Cách Bày Mâm Ngũ Quả Ngày Tết Đẹp Và Ý Nghĩa Của Mâm Ngũ Quả

1. Ý nghĩa mâm ngũ quả ngày tết

Mâm ngũ quả là một phần không thể thiếu trên bàn thờ Gia Tiên ngày tết của người Việt Nam. Việc chuẩn bị mâm ngũ quả giúp cho bàn thờ gia tiên được tươm tất và đầy đủ. Ngoài ra, nó còn thể hiện được tấm lòng hiếu thảo của con cháu dành cho ông bà tổ tiên của mình với mong ước được tổ tiên phù hộ cho năm mới, mọi khởi đầu mới sẽ được tốt đẹp. Chính vì thế mà mọi nhà ai nấy cũng đều chuẩn bị cho mình một mâm ngũ quả thật đẹp mắt và hoàn hảo nhất.

Theo phong thủy của người Việt, thì con số 5 là tượng trưng cho ngũ hành cấu thành vũ trụ. Còn nếu theo chủ nghĩa duy vật thì có 5 yếu tố tạo nên vật chất, đó là kim loại – kim, gỗ – mộc, nước – thủy, lửa – hỏa, đất – thổ, tượng trưng cho mong ước được ngũ phúc: “Giàu có, sang trọng, sống lâu, khỏe mạnh, bình yên”. Và đối với người Việt, con số 5 thể hiện rõ nhất trong mâm ngũ quả ngày tết. Màu xanh là hành mộc, vàng là hành thổ, đỏ là hành hỏa, trắng là hành kim, sẫm đen là hành thủy.

Mâm ngũ quả ngày tết bao gồm 5 loại quả khác nhau, tượng trưng cho 5 loại trái cây của đất trời. Sở dĩ chọn số 5 là vì từ xưa ông cha ta đã quan niệm Phú – Quý – Thọ – Khang – Ninh là những điều quý giá và luôn mong mỏi đạt được 5 điều này trong năm mới. Con số 5 là một con số tốt vì theo quan niệm xưa số chẵn là âm, số lẻ là dương tức là con số ngũ hành. Bên cạnh đó, mâm ngũ quả còn là biểu tượng của âm dương hòa hợp, của sự phát triển mạnh mẽ.

Từ xưa đến nay, ông bà ta vẫn luôn chuẩn bị một mâm ngũ quả thật tươm tất để bày trí lên bàn thờ gia tiên. Để có được những quả ngọt, căng tròn, xanh mướt là cả một quá trình lao động hăng say và vất vả. Nay được dâng lên tổ tiên thần vật linh thiêng đó là kết quả của cả quá trình lao động nhằm mong rằng tổ tiên sẽ phù hộ cho cả gia đình được bình an và may mắn.

2. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết đẹp theo phong tục 3 miền Bắc – Trung -Nam

2.1 Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết miền Bắc

Mỗi vùng miền sẽ có những phong tục và tập quán khác nhau, và trong cách trưng bày, trang trí ngày tết cũng không ngoại lệ. Mâm ngũ quả của gia đình miền Bắc thường có năm loại: chuối xanh, bưởi (hoặc phật thủ), đào, hồng và quýt. Quả chuối xanh tượng trưng cho hành Mộc là trọng tâm của mâm ngũ quả. Nải chuối có hình giống bàn tay ngửa lên để che chở, bảo vệ cũng như đem lại phúc lộc cho gia chủ. Nải chuối đặt bên dưới để làm điểm tựa, phía trên nải chuối sẽ là buởi. Xung quanh đặt hồng, đào và quýt đan xen sao cho nhìn đẹp mắt.

Mâm ngũ quả ngày Tết ở miền Bắc

Có một điều các bạn cần lưu ý đó là khi mua hoa quả về trưng tết, không cẩn phải rửa lại mà chỉ cần lấy khăn giấy ẩm lau qua cho sạch là được. Vì khi đem đi rửa, quả sẽ còn đọng nước nên mau bị héo và úng.

2.2 Cách bày mâm ngũ quả miền Nam gồm những gì ?

Mâm ngũ quả ngày tết của người miền Nam khá khác với miền Bắc. Người miền Nam bày biện mâm ngũ quả theo phát âm của từng trái làm sao để có thể đạt: cầu, sung, vừa, đủ, xài (dùng) tương ứng với năm loại quả là: mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Bên cạnh đó, đế được tạo nên từ ba quả dứa (quả thơm) mang lại cảm giác chắc chắn. Cách bày mâm ngũ quả ngày Tết đẹp như sau: Để xoài, dừa, đu đủ lên phía trước rồi bày các loại quả còn lại lên phía trên để tạo thành hình ngọn tháp nhỏ. Các bạn muốn mâm ngũ quả đẹp thì nên chọn đu đủ vừa chín tới, có màu xanh lẫn màu vàng, xoài chín màu vàng, trái sung lựa màu đỏ nhẹ và mãng cầu có dáng đẹp.

2.3 Cách trang trí mâm ngũ quả ngày Tết miền Trung

Khác với miền Bắc và Nam, dải đất miền Trung bày trí đơn giản hơn, theo hình thức quả to, nặng đặt ở dưới làm đế, những quả có trọng lượng nhỏ chèn bên trên hoặc xen kẽ vào chỗ trống. Họ không chú trọng phải có một mâm ngũ quả cầu kỳ mà chủ yếu dâng sự thành tâm, mâm cúng dựa vào trái cây có theo mùa.

Mâm ngũ quả ngày Tết ở miền Trung

Cách làm mâm ngũ quả cũng khá đơn giản, nhưng nếu các bạn ở miền Bắc thì cần lưu ý phải bày mâm ngũ quả số lẻ vì sẽ tượng trưng cho sự sinh sôi, nãy nở và phát triển. Còn ở miền Trung và miền Nam thì sẽ thoải mái hơn, họ không quan trọng số lẻ hay chẵn nữa. Tuy nhiên, mâm ngũ quả chỉ được bày quả, không đặt thêm hoa hay bất cứ thực phẩm nào.

3. Ngoài chưng mâm ngũ quả ngày Tết, cần bài trí bàn thờ ra sao?

Khi ngày tết sắp đến, các gia đình không chỉ quan tâm đến việc mua và bày trí mâm ngũ quả mà còn phải lưu ý đến việc trang trí trên cả bàn thờ gia tiên. Các gia đình cần chuẩn bị 2 cây đèn dầu hoặc nến để tượng trưng cho mặt trăng và mặt trời, và cũng là để khi khách đến để đốt hương cho ông bà tổ tiên. Ngoài ra, cần chuẩn bị 2 bình hoa, 1 bình là hoa tươi nhằm dâng lên hương thơm và 1 bình hoa còn lại là cậy vàng cây bạc.

Lưu ý: 2 bình hoa nên đặt ở phía trong 2 cây đèn nhằm tăng thêm sinh khí cho bàn thờ gia tiên. Khi thắp đèn lên sẽ tỏa ra một nguồn năng lượng ấm áp giúp xua đuổi được tà khí trong nhà.

Ngoài các lễ vật trên, thì trên bàn thờ cũng cần phải có các loại đồ thờ cúng khác như mâm bồng thờ, ống đựng hương, bình rượu,…Tùy theo phong tục của mỗi miền thì sẽ có quan niệm trình bày khác nhau. Do vậy mà đồ cúng trên bàn thờ gia tiên của mỗi miền cũng sẽ không giống nhau. Nhưng có một điểm chung của cả ba vùng miền đó là đều sẽ có 3 chén rượu, 3 chén nước và hương cùng với hoa tươi.

Và một điều mà các bạn cần lưu ý nữa là, khi chọn mua hương để đốt vào ngày Tết nên chọn hương có mùi thơm nhẹ vì sẽ tạo không khí dễ chịu và xua đuổi được tà khí trong nhà. Các bạn có thể mua loại nhang vòng để đốt được lâu hơn và đỡ tốn thời gian. Còn đối với hoa, các bạn nên chọn hoa tươi, có màu sắc rực rở nhìn đẹp mắt và có thể trưng được lâu trong những ngày Tết. Tránh việc mua hoa giả để trang trí bàn thờ gia tiên vào ngày tốt vì sẽ không mang lại may mắn cho cả gia đình.

Trang trí bàn thờ gia tiên vào ngày tết cổ truyền

Việc nên cắm bao nhiêu bông hoa trên bàn thờ cũng là điều đáng lưu ý. Theo quan niệm xưa thì tránh cắm số chẳn và số lẻ 7 vì đó là đềm không may. Ngoài ra, cũng không nên cắm hoa ly, cúc vạn thọ, mẫu đơn, nhài hay râm bụt trên bàn thờ ngày tết và cũng không được trang trí những vật không tịnh lên bàn thờ gia tiên.

Khi sắp xếp bàn thờ ngày Tết các bạn cũng cần lưu ý, trước tiên nên lấy nước sạch lau cho bàn thờ để chuẩn bị đón năm mới. Đối với di ảnh của tổ tiên nên đặt ở phía trong cùng. Còn ở phía trước của bàn thờ sẽ đặt bát hương, lưu ý nên lấy hết chân nhang của năm cũ đi đốt. Hai bên bàn thờ các bạn đặt đèn, đỉnh đồng và các đế đỡ đồ thờ cúng. Vị trí xếp mâm ngũ quả sẽ là trước di ảnh và sau bát hương và bình hoa cũng tương tự như vậy. Đây là quy tắc bắt buộc khi sắp xếp bàn thờ Tết mà các bạn nên biết. Điều kiêng kỵ nhất khi sắp xếp bàn thờ đó là tùy tiện xê dịch vị trí của bát hương.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Ngày Tết Trung Thu

Các phong tục tập quán trong Tết Trung Thu cổ truyền

Nguồn gốc và ý nghĩa của ngày Tết Trung Thu

1. Các phong tục tập quán của Tết Trung Thu

Theo phong tục tập quán người Việt ta từ xưa đến nay, Tết Trung Thu được tổ chức vào giữa mùa thu, tức là hôm Rằm Tháng Tám (âm lịch). Trong dịp này người ta làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân cúng mặt trăng.

Nhân dịp tết này, người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức một mâm cỗ.

Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây trong đêm Trung Thu này được gọi là ” phá cỗ.”

2. Nguồn Gốc Tết Trung Thu

Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Hoa.

Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Đường Minh Hoàng cho xây dựng ngay “Vọng Nguyệt đài” – Đài ngắm trăng. Khi trăng giữa tháng – đêm rằm, nhà vua lên Vọng Nguyệt đài thích thú ngắm trăng, có cảm giác là ngày đêm đẹp nhất, như ngày vui, ngày hội. Thế là, nhà vua liền đặt ra Tết Trung thu khi rằm tháng 8 đến. Từ đó, Tết Trung thu trở thành tục lễ hàng năm, khi trăng tròn, tỏa sáng, là có vũ – nhạc “Khúc nghê thường” vang trong Cung đường.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

Theo lệ đó, từ đó đến nay, khi đón trăng – đón Tết Trung Thu, khắp nơi, mọi nhà, mọi người, nhất là các em nhỏ, được người lớn chuẩn bị cho tết, hướng dẫn trẻ em ngắm trăng vui chơi, múa hát, đánh trống, rước đèn ông sao và các hình con vật, cùng nhiều đồ chơi thích thú. Người lớn không chỉ mua sắm, tổ chức, hướng dẫn cho con trẻ, mà cũng cùng các em vui chơi thoả chí và thích thú đón trăng, phá cỗ dưới trăng làm nên sự thăng hoa tình cảm, trí tuệ, trước thiên nhiên, cuộc sống, khi mùa thu êm ả, mát mẻ, dễ chịu, thoải mái, hứng khởi đi tới tương lai của cộng đồng và mỗi người.

Về phá cỗ Trông Trăng, ngoài vũ nhạc, thời nhà Đường, người ta còn làm bánh “trông trăng” – có hình mặt trăng để liên hoan khi Tết Trung thu về. Tục lệ đó, đã có ở nước ta từ lâu đến nay. Nên dịp Tết Trung thu, khắp nơi trong nước sản xuất nhiều loại đồ chơi, làm nhiều loại bánh, kẹo trung thu nhiều hình nhiều vẻ, nhiều màu sắc, nhiều hương vị, bày bán khắp nơi để phục vụ Tết Trung thu.

Rước đèn đêm Trung thu, đã là tục lệ và nguồn vui của mọi người, nhất là thiếu nhi. Tục lệ này có từ Trung Hoa cổ xưa. Thời nhà Tống (960-1269), chuyền lan một huyền thoại là: có con cá chép vàng, tu luyện thành tinh, thường hóa phép thành người, để trêu và lừa phụ nữ. Thấy thế, ông Bao Công bày cho mọi nhà mang đèn Cá Chép và nhiều loại hình con gia súc, gia cầm khác, treo trước cửa nhà, để cá quỷ không dám đến nhũng nhiễu, làm hại. Từ đó, trung thu đến, nhà nhà thả cá chép xuống ao hồ và treo nhiều loại đèn, có đèn hình cá chép và cho trẻ rước đèn Ông Sao vui chơi dưới vầng trăng toả sáng tươi đẹp.

Tết Trung thu và các tục lệ trong tết này, được du nhập từ Trung Hoa vào Việt Nam từ thời Lý. Nhưng phải đến Cách mạng tháng 8 thành công và nhất là từ năm 1947, khi Bác Hồ gửi thư Trung thu cho thiếu nhi cả nước, Tết Trung thu mới thực sự trở thành tết của tất cả trẻ em và được tổ chức vui chơi tưng bừng, rộn ràng, phấn khởi, vừa mang nhiều nguồn vui, vừa có ý nghĩa xã hội, đời sống… khi toàn xã hội, gia đình tận tình chăm sóc trẻ em. Sinh thời, hàng năm, Tết Trung thu về, Bác Hồ đều gửi thư cho thiếu nhi. Bác còn đến một số nơi vui chơi, tặng quà, đón trăng cùng các cháu. Đó là tấm lòng yêu dấu thấu tình của Bác, của tất cả người lớn với lớp măng non của dân tộc-người kế nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước./.. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu.

3. Sự tích Tết Trung thu

Tết Trung Thu thường diễn ra theo âm lịch là ngày rằm tháng 8 hằng năm. Tục vui Tết Trung-Thu đã có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung-Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám (713-755). Về sau được lan rộng ra các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Hoa.

Tại Việt Nam sử sách không nói rõ dân ta bắt đầu tổ chức Tết trung thu từ bao giờ. Chỉ biết rằng mấy trăm năm trước tổ tiên ta đã theo tục này. Ngay từ đầu tháng 8 âm lịch các khu chợ đã trưng bày nhiều mặt hàng mang màu sắc Trung thu như lồng đèn, bánh nướng, bánh dẻo. Người mua với người xem đông như hội. Ngoài các loại đồ chơi, đồ trang trí, bánh kẹo còn trưng bày nhiều loại mặt nạ, đầu lân sư tử.

Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được ông Phan Kế Bính diễn tả trong “VN Phong tục”: “ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Ðầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp”.

4. Sự tích Hằng Nga

Theo dân gian tương truyền thời xa xưa trên trời có 10 mặt trời cùng chiếu xuống mặt đất nóng đến bốc khói, biển hồ khô cạn người dân gần như không sống nổi. Chuyện này làm kinh động đến vị anh hùng tên Hậu Nghệ. Anh đã trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng thần lực giương nỏ thần bắn rụng 9 ông mặt trời. Hậu nghệ đã lập nên thần công cái thế nên nhận được sự kính trọng yêu mến của nhiều người và được nhiều chí sĩ đến tìm tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông là một kẻ tâm thuật bất chính.

Không lâu sau Hậu Nghệ lấy người vợ xinh đẹp tốt bụng tên là Hằng Nga rất đẹp đôi. Vào một ngày, Hậu Nghệ đến núi Côn Lôn thăm bạn tình cờ gặp được Vương mẫu nương nương ngang qua bèn xin thuốc trường sinh bất tử. Nghe nói uống loại thuốc này sẽ lập tức bay lên trời thành tiên.

Nhưng Hậu Nghệ không nỡ xa vợ hiền nên đưa thuốc bất từ cho Hằng Nga cất giữ vào hộp đựng gương lược của mình, không may bị Bồng Mông nhìn thấy.

Hậu Nghệ dẫn học trò ra ngoài săn bắn vài hôm thì Bồng Mông với tâm địa xấu xa đã giả vờ lâm bệnh xin ở lại. Đợi Hậu nghệ dẫn các học trò đi không lâu thì Bồng Mông cầm bảo kiếm đột nhập vào hậu viên ép Hằng Nga đưa thuốc bất tử. Do biết mình không phải đối thủ của Bồng Mông, trong lúc nguy cấp Hằng Nga lấy thuốc uống xong thấy người bỗng nhẹ rời khỏi mặt đất, hướng cửa sổ và bay lên trời. Nhưng còn vương vấn tình nghĩa vợ chồng nên chỉ bay đến mặt trăng là nơi gần với nhân gian nhất rồi trở thành tiên.

Hậu Nghệ trở về nhà thì các thị nữ vừa khóc vừa kể lại chuyện xảy ra với Hằng Nga. Hậu Nghệ vừa lo vừa giận đã rút kiếm tìm giết tên nghịch đồ nhưng Bồng Mông đã trốn đi từ lâu. Hậu Nghệ nổi giận nhưng chỉ biết vỗ ngực giậm chân kêu khóc. Trong lúc đau khổ, Hậu Nghệ đã ngửa cổ lên trời đêm gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, mà còn có thêm một bóng người cử động trông giống Hằng Nga. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà bình thường Hằng Nga thích ăn nhất, để tế Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình.

Sau khi Hằng Nga lên cung trăng thành tiên nữ, người dân lần lượt bày hương án dưới ánh trăng để cầu xin Hằng Nga ban may mắn bình an. Từ đó xuất hiện phong tục “bái nguyệt” vào Tết trung thu được lưu truyền trong dân gian.

5. Sự Tích Chú Cuội Cung Trăng

Chú Cuội ngồi gốc cây đa

Thả trâu ăn lúa gọi cha ồi ồi

Cha còn cắt cỏ trên trời

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên

Ông thời cầm bút cầm nghiên

Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa.

Ở miền nọ có chàng tiều phu tên là Cuội, một lần đi rừng vào nhầm hang cọp cuội giật mình leo lên ngọn cây cao trốn. Cọp mẹ về hang thấy đàn con chết lả vì đói nên đến gần gốc cây chỗ Cuội ẩn đớp lấy ít lá mang về mớm cho đàn con. Bỗng nhiên chưa ăn giập 4 miếng trần, 4 chú cọp đã vẫy đuôi sống lại. Chờ cọp mẹ tha con đi nơi khác chú Cuội mới tìm cây lạ đào gốc mang về.

Trên đường về, Cuội gặp lão ăn mày nằm chết trên bãi cỏ vì vậy Cuội bất ngay mấy lá để cứu giúp lão ăn mày thoát cửa tử. Sau đó nghe Cuội kể câu chuyện, lão ăn mày kêu lên: “Đây là cây đa có phép “cải tử hoàn sinh”. Con chăm sóc cây đừng tưới nước bẩn kẻo cây bay lên trời đó”.

Từ ngày lấy được cây thuốc quý về trồng, Cuội đã cứu sống được nhiều người và được yêu mến kính nể. Trong một lần cứu sống con gái lão địa chủ chết đuối hồi sinh, cô đã xin lấy Cuội làm chồng. Đôi lứa hưởng những ngày hạnh phúc tuy nhiên cô vợ Cuội mắc tính hay quên. Những khi đi làm xa, Cuội dặn “có tiểu thì đi bên Tây, chớ tiểu bên Đông, cây dông lên trời” mà cô vợ như lú lẫn ruột gan, vừa nghe xong là quên ngay.

Vào một buổi chiều, cô vợ không nhớ lời dặn cứ nhắm vào cây quý tiểu. Bỗng nhiên mặt đất chuyển động, gió thổi ào ào, cây đa đảo mạnh, bật gốc phi lên trời xanh. Đúng lúc, Cuội đi kiếm củi về, hớt hải nhảy bổ đến níu cây lại. Nhưng sức người có hạn, cây đa kéo cả Cuội cứ thế bay lên cung trăng. Từ đấy, cứ mỗi dịp ngày rằm, ánh trăng sáng nhất, khi ngước nhìn lên, người ta thấy một vết đen hình cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc. Đó chính là chú Cuội đang chờ ngày được trở về trần gian.

6. Ý Nghĩa Tết Trung Thu

Tết Trung Thu của người Việt có nhiều điểm đặc biệt khác với Tết Trung Thu của người Trung Hoa. Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn.

Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm.

Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng, và các ân nhân khác. Thật là dịp tốt để con cháu tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ và để người đời tỏ lòng săn sóc lẫn nhau.

Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này.

Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình.” Ngày xưa trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát.

Tết Trung Thu mới đầu là tết của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết Thu. Dần dần Tết Trung Thu trở thành Tết Trẻ Em hay Tết Nhi Đồng, nhưng người lớn cũng dự phần trong đó. Trẻ em được người lớn chú ý săn sóc như các hội đoàn người Việt hải ngoại đã và đang làm. Các em có dịp vui chơi rước đèn, ca hát, phá cỗ do cha mẹ anh chị bày cho và nhất là có dịp ăn bánh kẹo thả cửa mà không sợ bị quở mắng là “ăn kẹo hư răng.”Trong dịp Tết Trung Thu, trẻ em có dịp được học bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” một cách thích thú: “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường. Lòng vui sướng với đèn trong tay. Em múa ca trong ánh trăng rằm. Đèn kéo quân với đèn cá trắm, đèn thiên nga với đèn bươm bướm. Em rước đèn này đến cung trăng. Đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng. Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu.”

Tết Trung Thu là một phong tục rất có ý nghĩa. Đó là ý nghĩa của săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Cần cố gắng duy trì và phát triển ý nghĩa cao đẹp này.