Top 10 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Ngày Cúng Rằm Tháng Giêng Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Herodota.com

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Ngày Rằm Tháng Giêng

Với người Việt, Rằm tháng Giêng (hay còn gọi là Tết Nguyên tiêu) là ngày cúng lễ vô cùng thiêng liêng dịp mỗi đầu năm mới. Với số đông người theo phong tục thờ cúng ông bà thì ngày này trước hết được hiểu một cách đơn giản là ngày rằm lớn.

Tùy theo tín ngưỡng và ngành nghề, có gia đình lễ bái chư Phật, có gia đình cúng thổ công, thần tài hoặc cúng âm hồn… Nhưng nhà nào cũng phải có lễ cúng gia tiên để bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, cảm ơn trên đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả.

Trước đây lễ Rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn. Những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày Rằm tháng Giêng mới lên đường.

Những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khoẻ mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn tết “bù”…

Vì vậy, từ lâu trong tâm thức người Việt, ý nghĩa ngày Rằm tháng Giêng là một ngày lễ không khác gì ngày Tết Nguyên đán. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cách đón ngày rằm của người dân cũng ít nhiều thay đổi.

Mọi người thường đi lễ chùa và giải hạn, và dâng mâm cỗ đầu năm tại gia, cúng bái bằng thành tâm nhằm cầu mong sự phù hộ để có một năm an lành và làm ăn phát đạt.

Khung cảnh chen chúc, chờ đợi cúng lễ trong ngày rằm tháng Giêng tại chùa Phúc Khánh, Đống Đa, HN (Ảnh Doisongphapluat.online)

MicrosoftInternetExplorer4

/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:”Table Normal”; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:””; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:”Times New Roman”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Nguồn gốc ngày Rằm tháng Giêng – Tết Nguyên tiêu

Về cội nguồn của Tết Nguyên tiêu cũng là nguồn gốc ngày Rằm tháng Giêng, dân gian có nhiều giải thích. Nhiều tài liệu viết phong tục này bắt nguồn từ thời Tây Hán ở Trung Quốc với lễ hội rước đèn lồng long trọng.

Chính vì thế, có nơi gọi Tết Nguyên tiêu là lễ hội lồng đèn hay hội hoa đăng. Ngày nay ở nhiều thành phố có người gốc Hoa sinh sống đều có tổ chức Tết Nguyên tiêu long trọng.

Ở Hội quán Phúc Kiến (đường Trần Phú, Phường Minh An, thành phố Hội An, Quảng Nam) là một ví dụ. Tại sông Hoài – Hội An, tối 14 âm lịch hàng tháng cũng đều tổ chức thả đèn hoa đăng cầu may.

Ở Hội An, tối 14 âm lịch hàng tháng và cả dịp rằm tháng Giêng đều tổ chức thả đèn hoa đăng cầu may (Ảnh Mytour.vn)

Có truyền thuyết cho rằng, Tết Nguyên tiêu bắt nguồn từ việc đồng áng. Vào dịp rằm tháng Giêng, bà con nông dân khẩn trương chuẩn bị cho công việc đồng áng, nên tối ngày 15/1 âm lịch là thời điểm ra đồng ruộng tập trung cỏ khô, lá khô, châm lửa tiêu hủy sâu bọ.

Tết Nguyên tiêu của người Trung Quốc

Với người Trung Quốc, rằm tháng Giêng có tên gọi là Tết Nguyên tiêu. Tết Nguyên Tiêu ở đây có nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới vì “nguyên” là thứ nhất, “tiêu” là đêm.

Người Hán cổ có ba cái Tết: Tết Thượng Nguyên (chính là rằm tháng Giêng), Tết Trung Nguyên (rằm tháng bảy) và Tết Hạ Nguyên (rằm tháng mười). Qua nhiều thăng trầm thời gian, đến nay với người Trung Quốc, Tết Nguyên tiêu là hội hoa đăng hay lễ hội đèn hoa.

Trong ngày rằm tháng Giêng, người Trung Quốc tổ chức lễ hội hoa đăng… (Ảnh Baidu)

… và ăn bánh trôi truyền thống (Ảnh Baidu)

Ngắm đèn ăn bánh trôi là hai phong tục chính trong ngày tết này. Những đèn màu trong ngày Tết Nguyên tiêu, thường làm bằng giấy màu sặc sỡ, với đủ các tạo hình như non nước, các kiến trúc, các nhân vật, hoa cỏ, chim muông v.v…

Bánh trôi của người Tàu có nhân bằng các loại hoa quả, bên ngoài lấy bột gạo nếp gói thành từng viên tròn, rồi nấu chín, ăn thơm và ngon miệng. Ngày nay, phong vị bánh trôi của mỗi địa phương cũng không giống nhau.

Ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, trong ngày Tết Nguyên tiêu còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác như diễu hành, múa lân sư rồng…

Tổng hợp Theo Tuổi Trẻ Thủ Đô

Ý Nghĩa Của Bánh Trôi Trên Mâm Cỗ Cúng Rằm Tháng Giêng

GD&TĐ – Với ý nghĩa cầu cả năm mọi việc đều hanh thông trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy, mâm cỗ rằm tháng Giêng nhiều gia đình đặt bánh trôi trên mâm cỗ lễ Phật. Nắm bắt được nhu cầu, dịch vụ làm bánh trôi phục vụ cúng rằm tấp nập.

Khác với các ngày rằm khác trong năm, ngày Rằm tháng Giêng được nhiều người Việt coi trọng. Theo đó, thông thường người Việt sẽ sắm hai lễ chính, một là lễ cúng Phật và mâm lễ cúng gia tiên.

Mâm lễ cúng Phật thường có hương hoa, trầu cau, rượu trắng và quả. Ngày nay, mâm lễ cúng Phật của nhiều gia đình hiện đại có thêm món bánh trôi nước với ý nghĩa cầu mong cả năm mọi việc đều hanh thông, trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy.

Nắm bắt được nhu cầu này, nhiều bà nội trợ khéo tay như chị Thương Nguyên (Thanh Xuân, Hà Nội) đã làm bánh trôi nước. Theo chị Thương Nguyên chia sẻ, rất nhiều năm chị làm bánh trôi nước để bán cúng Rằm. Bởi có khá nhiều khách đặt về để cúng Rằm.

Chị Thương Nguyên kể: “Năm nào cũng vậy, từ mùng 10 tháng Giêng là chị bắt đầu làm bánh trôi cho khách đặt cúng Rằm. Bánh trôi nhà mình được làm hoàn toàn từ bột lá nếp. Nhân bánh đậu xanh không vỏ, đậu đỏ, matcha, vừng đen, nho, hồng táo Hàn Quốc. Và nước đường thờm mùi gừng già. Năm nay chị cải tiến về hình dáng bánh cho đẹp mắt, mỗi sét gồm sau viên tương ứng sáu vị”.

Mấy ngày nay chị nhận được khá nhiều đơn hàng đặt bánh. Chị phải làm luôn tay chân suốt cả ngày để có bánh trả khách. Vào những dịp Tết hay mồng một, nhà chị cũng làm không xuể với đơn khách đặt về thắp hương và cúng giao thừa. May chị mới tuyển được thêm đầu bếp về làm cùng.

Cũng giống như bánh trôi ngũ sắc đang cháy hàng, nhiều khách cũng thích đặt bánh trôi tàu nhà chị Thương Nguyên. Bánh trôi tàu để cúng Rằm cũng được rất nhiều người chọn lựa. Với bánh trôi tàu chị Thương Nguyên cũng làm với nhân đậu xanh, đậu đỏ, matcha.

Đầu năm mọi người thích đặt bánh nhân đậu đỏ để mong đỏ cả năm, mọi việc trôi chảy. Nhân đậu đỏ làm rất kỳ công. Đậu đỏ được chị Thương Nguyên lựa cẩn thận, rửa sách, ngâm qua đêm cho hạt đậu nở căng giúp ăn dễ tiêu hoá, thơm ngon. Sau đó hầm đậu gần ba tiếng cho nhừ mềm, xây nhuyễn rồi sên thêm tiếng rưỡi nữa, chờ nguội mới nắn nhân. Nắn nhân cũng phải biết nắn mới chắc tay ra bánh mới dẻo bùi được.

Tết Nguyên Tiêu hay Rằm tháng Giêng là một ngày quan trọng trong tâm linh người Việt. Việc cúng lễ Phật và tổ tiên ở nhà hết sức được chú trọng. Ai cũng mong muốn trong mâm cỗ cúng lễ mặn hay lễ chay đều đầy đủ các món ăn tinh khiết, mong cả năm mọi việc được hanh thông, như ý.

Ý Nghĩa Ngày Rằm Tháng Giêng, Tháng Bảy, Tháng Mười Trong Phật Giáo

Một năm, dân gian có ba ngày rằm chính. Đó là: Rằm tháng giêng, Rằm tháng bảy và Rằm tháng mười. (Thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên.)

Từ ý nghĩa ban đầu của ý nghĩa lễ hội “rằm tháng Mười”, nhân Tết Hạ nguyên, cha mẹ chính là người thầy dạy con cái phải biết làm việc thiện lành, từ bỏ điều quấy ác, vì những ngày này Thiên đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian xem xét việc tốt lành về tâu với Ngọc Hoàng để được ban thưởng và tránh tai họa về sau.

Do đó, rằm tháng Mười hàng năm được tổ chức trọng thể, không chỉ ở trong mái ấm gia đình mà nó đã lan tỏa vào trong khuôn viên nhà chùa.

“Mỗi người mỗi nước, mỗi non

Khi vào cửa Phật, chung con một nhà”.

Đạo Phật là đạo hiếu, hạnh hiếu là hạnh Phật. Không phải ngẫu nhiên, một thuở nọ, Đức Phật cùng các Tỷ kheo trên đường đi hoằng pháp, Ngài dừng lại để đảnh lễ đống xương khô bên đường và dạy rằng:

“Vô thỉ luân hồi, chúng sinh từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em trong dòng sống tương tục”.

Dưới sự chứng minh của chư Phật mười phương, chín phương trời, chư Thánh thần, Hoàng thiên Hậu thổ, Bản cảnh Thành hoàng, Bản xứ thổ địa, Bản gia táo quân, Tôn thần, tổ tiên ông bà thì mỗi cá nhân đã thực sự hiểu rõ và sống theo đạo lý Duyên khởi, cội nguồn đạo hiếu, tri ân và biết ân thì họ đang an trú trong thế giới an lạc, hạnh phúc.

“Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp

Ai thấy Pháp thì sẽ chứng ngộ Niết bàn”.

Xuất phát từ lòng biết ơn và tri ân chư Phật, Thánh hiền, ông bà tổ tiên và mọi chúng sinh hiện hữu khắp pháp giới, thông qua lễ hội rằm tháng Mười, mỗi người tự nguyện hứa với lòng mình, tự nguyện thực thi hạnh nguyện sống theo nếp sống hướng thiện cao quý, mong sao được thành tựu trước sự chứng minh của chư Phật, Thánh thần, tổ tiên trong không khí trang nghiêm của mái chùa quê hương thân thương:

“Nay nhân mùa gặt hái

Gánh nếp tẻ đầu mùa

Nghĩ đến ơn xưa

Cày bừa vun xới

Sửa nồi cơm mới

Kính cẩn dâng lên”.

Phật giáo có chung một ngày rằm với dân gian, đó là ngày rằm tháng bảy hằng năm. Tất cả những ngày mồng một và ngày rằm trong năm, Phật giáo đều gọi là ngày Sóc và ngày Vọng (dùng theo danh từ Phật học). Chư Tăng dùng hai ngày này để bố tát và tụng giới, tùy theo khả năng và cấp bậc đã phát nguyện vâng giữ. Phật tử cũng tùy theo giới luật đã cầu thọ của mình, nương theo chư Tăng để được học giới, tụng giới và tiến tu. Vì, Phật pháp không xa rời thế gian pháp (Phật pháp bất ly thế gian pháp), Phật pháp lấy “dĩ huyễn độ chơn”, nên không lạ gì trong chốn già lam thường tổ chức những ngày lễ như rằm tháng giêng hay rằm tháng mười.

Tâm nguyện của chư vị Bồ tát thường chủ trương rằng:

– Chính ta không vào địa ngục thì ai là người vào địa ngục để thuyết giáo cho chúng sanh đang trầm luân, đọa lạc?

Với tâm niệm và hạnh nguyện cứu khổ ban vui đại bi tâm của Đại thừa Phật giáo khai phương tiện như thế, cho nên, chốn già lam tùy duyên hóa độ bằng cách tùy theo niềm tin của lớp đại đa số quần chúng sơ cơ học đạo giải thoát mà tổ chức các buổi lễ lạc, không ngoài mục đích chính là hướng dẫn chúng sanh quay về bờ giác …

Rằm tháng giêng, là ngày rằm đầu tiên trong năm, dân chúng dùng để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình cả năm đều được như ý về mọi mặt. . Họ sắm lễ vật để cầu an, dương sao, giải hạn. Vùng nào có chùa thì cùng nhau vào chùa để nhờ quý sư sãi lập đàn cầu nguyện.

Ngày rằm tháng bảy, các gia đình đều có sắm lễ vật y như trong kinh Báo hiếu Phụ mẫu trọng ân, kinh Vu lan… để cúng dường Tam bảo, chư Tăng, ông bà tổ tiên và cha mẹ hiện đang tại thế hay quá vãng. Không những thế, họ theo chư Tăng để lập đàn tràng cúng cho Thập loại chúng sanh, khi sống thì không được no đủ, khi chết thì gặp phải cảnh bất trắc….. Họ cần phải được cầu nguyện, cần phải được cúng cấp theo niềm tin của quần chúng để các âm linh khỏi bị đói khát, lạnh lẽo khổ sở.

Rằm tháng Mười là Lễ tạ ơn – là một trong bốn ơn của Phật giáo mà đức Phật đã dạy khi ngài còn tại thế. Sau khi cúng tạ ơn trời đất xong, cả gia đình sum họp quanh bếp lửa hồng của mùa đông giá rét với một bữa no đủ, ấm cúng. Dân chúng ai ai cũng có thu hoạch được một số thực phẩm trong vụ tháng tám vừa rồi, mọi nhà đều cúng lễ tạ ơn .

Như vậy, ngày rằm trọng đại hơn hết là ngày Rằm tháng Bảy. Bởi vì đạo Phật là đạo Hiếu. Nói đến hạnh Phật là nói đến hạnh Hiếu. Là người Phật tử chơn chánh, ơn nhỏ đã không quên thì ơn lớn sẽ không bao giờ quên. Vì ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên là một trong bốn ơn lớn mà đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni Từ phụ đã răn dạy cho hàng đệ tử của ngài, dù là xuất gia hay tại gia.

Đó là tứ ân: tức ơn Tam bảo , ơn cha mẹ, ơn thầy tổ và đàn na tín chủ và ơn quốc gia xã hội, sơn hà xã tắc, thiên địa phú tãi.

Người học Phật phải biết rõ và mãi ghi nhớ bốn ơn nầy.

Ngày rằm tháng 7 mang một ý nghĩa trọng đại và vô cùng thâm thúy.

Ngày của ơn trả nghĩa đền. Ngày của con thảo cháu hiền phải nghĩ đến ân đức sanh thành dưỡng dục.

Ngày cầu nguyện để cứu độ cho thân nhân đã khuất bóng nếu bị nghiệp duyên ràng buộc thì sớm được nhẹ nghiệp và hết nghiệp để được vãng sanh về cảnh giới an lạc, sớm được giải thoát.

Ngày cúng nguyện cho hàng thập loại chúng sanh không may tạo nghiệp đang bị đọa lạc trong chín tầng địa ngục được no đủ và sớm thoát nghiệp.

Ngày của chiến sĩ trận vong.

Đối với Tam bảo: Đó là ngày Phật hoan hỷ, ngày chúng Tăng hoan hỷ, ngày phước đức của người con Phật… .

Mùa đại lễ Vu lan – Báo hiếu đề cao công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ trong suốt cuộc đời và nhắc nhở đạo làm con phải giữ tròn chữ hiếu.

Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha

Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Mang cả tấm thân gầy, cha che chở đời con

Ai còn mẹ – xin đừng làm mẹ khóc

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe con

Một người phụ nữ đã mất mẹ đến dự lễ chùa ngỡ ngàng hạnh phúc khi được cài hoa hồng trên ngực áo, và thốt lên khi được nghe các sư thầy lý giải: “Đúng rồi, tôi vẫn còn có cha. Còn may mắn hơn bao người bất hạnh mồ côi cha lẫn mẹ”.

Ngoài ra, Đại lễ Rằm Tháng Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang hai ý nghĩa: (1) kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già. (2) kỷ niệm đánh dấu ngày Đức Phật công bố Giáo Pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa (tháng tư)

Thánh Hội Tăng Già là một sự cố hy hữu xảy ra duy nhất một lần trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thuở ấy, Đức Điều Ngự đang trú ở chùa Trúc Lâm tại thành Ràjagaha. Đó ngày trăng Rằm tháng Magha (tháng Giêng). Mặc dù không một lời mời nào, 1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của Đức Phật: “ehi bhikkhu – thiện lai tỳ kheo”. Những bậc phước huệ vẹn toàn đó đã ngồi vây quanh dưới chân của Đấng Đại Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết. Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên bởi con người giác ngộ cho một hội chúng giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền khóang hậu.

Rằm Tháng Giêng cũng kỷ niệm ngày Đức Phật tuyên bố đạo tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng đạo, đức Phật kết thúc năm sau cùng bằng cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80 tuổi. Con đường từ Ràjagaha về Kusinara ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại Vesalì, Đức Điều Ngự “với cái nhìn của con voi chúa” đưa mắt quanh núi đồi thanh tú của xứ Vajji lần sau cùng. Buổi trưa hôm đó tôn giả Ananda vị thị giả của đức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển mạnh của một cơn động đất trong khi đang thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Đạo Sư và từ kim khẩu của Phật tôn giả được biết rằng Đức Phật đã quyết định sẽ viên tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được nước mắt, người đệ tử trung kiên này đã khẩn cầu đức Phật trụ thế lâu hơn. Đức Phật ôn tồn: Hỡi Ananda, các con còn chờ đợi gì nữa ở Như Lai. Giáo pháp đã được truyền dạy đầy đủ không có gì giấu kín. Bốn chúng đệ tử đã được hướng dẫn đầy đủ trong việc tu học. Pháp và Luật đã được giảng giải tường tận. Rất dễ dàng cho hậu thế chia sẻ tâm trạng của tôn giả Ananda nhưng cũng không thể quên rằng sự hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của Đức Phật là một sự kiện thiêng liêng để kỷ niệm.

Rằm Tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo – Dhamma Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo (Lễ Kathina tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của giáo Pháp nên đại lễ này được gọi là Ngày Pháp Bảo.

Ngày Rằm tháng Giêng hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, là một trong những ngày rất quan trọng theo lịch âm của người Việt Nam. Việc cúng lễ trong ngày này phần lớn được tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngày này, người Việt thường đi chùa lễ Phật để cầu mong quanh năm an lành cho bản thân và gia đình. Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Lễ rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn; những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày rằm tháng Giêng mới lên đường; những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khỏe mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn Tết bù…

(Theo chuadida)

Ý Nghĩa Nhân Văn Của Rằm Tháng 7

Cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa nhân văn của Rằm tháng 7 .

Từ lâu, tháng 7 âm lịch gắn với lễ Vu lan báo hiếu ân đức của bậc sinh thành và tín ngưỡng tâm linh trong dân gian là ngày “xá tội vong nhân” vào dịp rằm tháng 7. Hai nét văn hóa này tuy được tổ chức cùng một ngày nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau. Một là sự báo hiếu của những người làm con đối với công ơn sinh thành của cha mẹ; còn ngày xá tội vong nhân là tục cúng, cầu siêu, độ vong cho những cô hồn không nơi tựa nương.

Từ lâu, dân gian quan niệm rằng, Rằm tháng 7, âm phủ mở cửa ngục, các linh hồn được ra ngoài, trở về nhà. Vì thế, nhà nhà làm lễ cúng, mời linh hồn người thân đã khuất trở về nhà hưởng thụ cơm canh, nhận quần áo mới, tiền bạc…Nhìn chung, trong những năm gần đây, hai nét văn hóa tuy khác nhau về tính chất nhưng đã được dân gian thực hành và gắn với sự báo hiếu, tri ân, biết ơn đấng sinh thành, dưỡng dục, nhớ về tiên tổ, những người đã khuất.

Hằng năm, cứ đến tháng 7 âm lịch, từ việc nhận thức và hiểu không rõ ý nghĩa của những phong tục, nét văn hóa của dân gian từ xa xưa đến nay diễn ra vào ngày rằm tháng 7, nên nhiều người đã sử dụng khá nhiều những thuật ngữ mang tính duy tâm, mê tín, dị đoan và từ đó, có những lời nói và hành động không đúng về giá trị tâm linh của những nét đẹp văn hóa trong tháng 7.

Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ, nhiều người còn khuyên nhau nên kiêng kị này nọ khi bước vào mùng 1 âm lịch của tháng 7. Kiêng không nên ăn món này, món nọ. Kiêng không nên làm những việc lớn, việc nhỏ, kiêng cưới hỏi, làm nhà, kiêng xuất hành vào những giờ không đẹp, làm việc gì cũng sợ không thành…Từ đó, nhiều người nghĩ đến sự rủi ro, đen đủi sẽ đến với mình, gia đình mình trong tháng 7. Khi làm việc gì đó không thành, khi bị tai nạn, họ sẽ đổ lỗi cho “tháng cô hồn”.

Từ sự nhận thức không đầy đủ ý nghĩa, nguồn gốc và nét đẹp nhân văn của ngày Rằm tháng 7 cùng với “sự sáng tạo” ra kiểu giao tiếp, phát ngôn gắn với “cô hồn” đã ít nhiều tạo nên một tâm lý nặng nề của một bộ phận người dân trong đời sống xã hội, đó là sự lo lắng, kiêng dè, sợ sệt khiến nhiều người trở nên mê tín quá mức. Hơn nữa, vì lo lắng, kiêng không làm việc lớn trong tháng 7 nên nhiều người, nhiều gia đình sẽ bỏ mất những cơ hội tốt trong cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới tương lai với bao dự định. Việc sử dụng ngôn ngữ “cô hồn” của giới trẻ đã mang đến không gian sống một sự chết chóc vô hình nào đó, ít nhiều làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

Trong khi đó, giá trị nhân văn của lễ Vu lan báo hiếu và tục cúng chúng sinh, cúng tổ tiên vào ngày Rằm tháng 7 lại được rất ít người nhắc đến. Chủ yếu những người cao tuổi, những phật tử quan tâm đến việc chuẩn bị cho hoạt động văn hóa này, còn một bộ phận giới trẻ thì không thấy nhắc nhiều đến Vu lan, báo hiếu và dự định cho mình một việc làm thật ý nghĩa để đền đáp ơn nghĩa đấng sinh thành.

Sư thầy Thích An Ninh, Trụ trì chùa Trúc Lâm (xã Ấm Hạ, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ) cho biết: “Ngày rằm tháng 7 mang nét đẹp văn hóa cổ truyền của người dân Việt Nam. Nét đẹp đó ảnh hưởng rất rõ nét trong cuộc sống hôm nay. Đó là dịp để những người con báo hiếu cha mẹ, tưởng nhớ đến những người thân đã khuất, cứu độ chúng sinh, chung tay giúp đỡ những người cơ nhỡ, không nơi nương tựa. Không nên hiểu đây là tháng đen đủi và tai ương”.

Thiết nghĩ, mọi sự may – rủi, thành – bại, được – mất là những điều thường trực diễn ra trong cuộc sống hằng ngày và đều do chính bản thân mỗi người làm nên.Chúng ta không nên vận những điều may rủi hay tai ương vào tháng 7, không nên gắn tháng này với hồn ma, chết chóc. Mỗi người cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa nhân văn của Rằm tháng 7 để có những việc làm, những hành động cụ thể, thiết thực báo hiếu cha mẹ, các đấng sinh thành. Cần loại bỏ các thuật ngữ, khẩu ngữ “cô hồn” tự tạo để tránh việc làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt./.