Top 9 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Việc Cúng Rằm Tháng Giêng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Ý Nghĩa Của Việc Thắp Hương Ngày Rằm

Thắp hương ở thời điểm nào?

Vào bất kỳ ngày nào cho dù là ngày lễ tết, rằm, mùng 1 hay ngày bình thường thì thời điểm nào là nên thắp hương? Và đây chính là cây hỏi được nhiều gia chủ quan tâm. Trong tín ngưỡng văn hóa của người Việt hàng ngàn năm nay việc thắp hương vốn là một tập tục khá lâu đời, đã xuất hiện và tồn tại trong đời sống văn hóa của người Việt ta. Cho nên, mỗi khi nén hương được thắp lên cũng là lúc sợi dây tâm linh liên hệ giữa hai thế giới âm – dương được kết nối một cách sâu sắc, chân thành.

Cho nên, nếu bạn có thời gian bạn nên thắp nhang hằng ngày thì nên thắp vào buổi sáng sớm và buổi chiều tối. Trong trường hợp, nếu không có thời gian, bạn có thể thắp vào các ngày lễ, Tết, ngày rằm, mùng 1 với một bình hòa và mâm trái cây để tỏ lòng thành kính và lòng biết ơn của mình.

Thắp hương sao cho chuẩn nhất

Khi thắp hương, đặc biệt là thắp hương ngày rằm trong quá trình thực hiện cần phải mở hết các cửa , bật đèn sáng nếu trời tối để tạo không gian thoáng khí, thoải mái. Bên cạnh đó là quan niệm mở cửa để chào đón ông bà, đón nhận nhưng luồng khí tài lộc tràng vào ngôi nhà.

Thắp bao nhiêu cây là đủ?

Thông thường, bạn nên thắp hương nên thắp theo số lẻ 1,3,5,7,9…vì số lẻ đem lại may mắn đại diện cho số dương sẽ mang dương khí. Còn với những số lẻ 2,4,6,8,… nằm ở số âm sẽ không tốt cho gia chủ.

– Thắp 1 nén nhang

Thông thường 1 nén hương dùng để thắp hằng ngày. Với 1 nén nhang thể hiện người sống thành tâm mong cầu thần linh, mong muốn tổ tiên phù hộ cho mình bình an, hạnh phúc, tràn đầy may mắn, sức khỏe, mua may bán đắt,… Thắp một nén hương để thờ cúng thần linh trong nhà được gọi là bình an hương.

– Thắp 3 nén nhang

Hầu hết thường được sử dụng vào việc thắp hương ngày rằm ngày lễ, Tết, mùng 1

Trên thực tế với 3 nén hương có những ý nghĩa khác nhau

Tam Thời chỉ thời gian (Quá khứ – Hiện tại – Tương lai).

Tam Giới, Tam Hữu (Dục giới – Sắc giới – Vô sắc giới).

Tam Bảo (Phật – Pháp – Tăng) .

Tam vô lợi học (Gới – Tuệ – Định).

Số 3 trong phong thủy tượng trưng cho tam giới : chỉ về bầu trời, mặt đất và con người chính là Thiên – Địa – Nhân. Thắp 3 nén nhang theo đạo Phật được gọi là tam bảo hương. Tam bảo đó chính là Phật, Pháp chính là kinh Phật, Tăng chính là người tu hành xuất gia, hay còn gọi là Phật, Pháp và Tăng,

Thắp ba nén nhang có ý nghĩa là trong tâm nhang: tuyệt đối không thay đổi lòng dạ. – chỉ về lòng thành kính của người thắp, giới nhang – luôn hướng theo lời răn dạy của Phật thánh tổ đường và định nhang.

– Thắp 5 nhang

Theo phong thủy, 5 nén hương thể hiện năm phương trời đất , thiên địa ngũ hành năm hướng thần linh.

Trong phong thủy thì ngũ hành là năm nguyên tố Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ.

Hầu hết thì trong một quốc gia, dòng họ, dòng tộc hay tập thể có việc gì đó đại sự thì mới thắp năm nén hương vì điều này thể hiện cho cầu Ngũ phương, Ngũ hành, ngủ thổ có nghĩa là khắp trời đất chứng giám lòng thành của người đại diện cho một đất nước, dòng tộc, địa phương, cầu mong cho “Quốc thái dân an”, cầu mong những điều tốt đẹp, bình an.

– Thắp 7 nhang

Theo phong thủy thắp bảy nén hương (nhang) được gọi là Bắc đẩu Thất : Thiên Cơ, Thiên Quyền, Khai Dương Thiên Xu, Thiên Toàn, Ngọc Hoành và Giao Quang là những vị thần linh cai quản hoạt động của tam giới (Thiên – Địa – Nhân).

Theo nghiên cứu của các chuyên gia phong thủy thì thắp 7 nén hương (nhang) cùng lúc là để mời gọi Thần linh, Thiên tướng hỗ trợ giúp trừ trà, trừ yêu, giải vây thế khó. Trong trường hợp không quá cần thiết thì cũng không cần thiết thắp tới bảy nén nhang làm gì.

– Thắp 9 nén nhang

Theo dân gian, 9 nén được gọi là Cửu liên hoàn hương. Một điều lưu ý, phải cắm theo thứ tự ba hàng ba cột, trên cùng là để mời Ngọc Hoàng, cuối cùng 2 hàng kế tiếp là mời các chư vị Thập Điện Diêm Vương.

Việc thắp 9 nén nhang thể hiện những tình thế khó mà ko thể nào nhờ vả ai hay thay đổi đươc, với mong muốn được cầu cứu khi rơi vào những hiểm nguy.

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Ngày Rằm Tháng Giêng

Với người Việt, Rằm tháng Giêng (hay còn gọi là Tết Nguyên tiêu) là ngày cúng lễ vô cùng thiêng liêng dịp mỗi đầu năm mới. Với số đông người theo phong tục thờ cúng ông bà thì ngày này trước hết được hiểu một cách đơn giản là ngày rằm lớn.

Tùy theo tín ngưỡng và ngành nghề, có gia đình lễ bái chư Phật, có gia đình cúng thổ công, thần tài hoặc cúng âm hồn… Nhưng nhà nào cũng phải có lễ cúng gia tiên để bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà, cha mẹ, cảm ơn trên đã phù hộ cho con cháu an lành, làm ăn khá giả.

Trước đây lễ Rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn. Những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày Rằm tháng Giêng mới lên đường.

Những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khoẻ mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn tết “bù”…

Vì vậy, từ lâu trong tâm thức người Việt, ý nghĩa ngày Rằm tháng Giêng là một ngày lễ không khác gì ngày Tết Nguyên đán. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cách đón ngày rằm của người dân cũng ít nhiều thay đổi.

Mọi người thường đi lễ chùa và giải hạn, và dâng mâm cỗ đầu năm tại gia, cúng bái bằng thành tâm nhằm cầu mong sự phù hộ để có một năm an lành và làm ăn phát đạt.

Khung cảnh chen chúc, chờ đợi cúng lễ trong ngày rằm tháng Giêng tại chùa Phúc Khánh, Đống Đa, HN (Ảnh Doisongphapluat.online)

MicrosoftInternetExplorer4

/* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:”Table Normal”; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:””; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:”Times New Roman”; mso-fareast-font-family:”Times New Roman”; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Nguồn gốc ngày Rằm tháng Giêng – Tết Nguyên tiêu

Về cội nguồn của Tết Nguyên tiêu cũng là nguồn gốc ngày Rằm tháng Giêng, dân gian có nhiều giải thích. Nhiều tài liệu viết phong tục này bắt nguồn từ thời Tây Hán ở Trung Quốc với lễ hội rước đèn lồng long trọng.

Chính vì thế, có nơi gọi Tết Nguyên tiêu là lễ hội lồng đèn hay hội hoa đăng. Ngày nay ở nhiều thành phố có người gốc Hoa sinh sống đều có tổ chức Tết Nguyên tiêu long trọng.

Ở Hội quán Phúc Kiến (đường Trần Phú, Phường Minh An, thành phố Hội An, Quảng Nam) là một ví dụ. Tại sông Hoài – Hội An, tối 14 âm lịch hàng tháng cũng đều tổ chức thả đèn hoa đăng cầu may.

Ở Hội An, tối 14 âm lịch hàng tháng và cả dịp rằm tháng Giêng đều tổ chức thả đèn hoa đăng cầu may (Ảnh Mytour.vn)

Có truyền thuyết cho rằng, Tết Nguyên tiêu bắt nguồn từ việc đồng áng. Vào dịp rằm tháng Giêng, bà con nông dân khẩn trương chuẩn bị cho công việc đồng áng, nên tối ngày 15/1 âm lịch là thời điểm ra đồng ruộng tập trung cỏ khô, lá khô, châm lửa tiêu hủy sâu bọ.

Tết Nguyên tiêu của người Trung Quốc

Với người Trung Quốc, rằm tháng Giêng có tên gọi là Tết Nguyên tiêu. Tết Nguyên Tiêu ở đây có nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới vì “nguyên” là thứ nhất, “tiêu” là đêm.

Người Hán cổ có ba cái Tết: Tết Thượng Nguyên (chính là rằm tháng Giêng), Tết Trung Nguyên (rằm tháng bảy) và Tết Hạ Nguyên (rằm tháng mười). Qua nhiều thăng trầm thời gian, đến nay với người Trung Quốc, Tết Nguyên tiêu là hội hoa đăng hay lễ hội đèn hoa.

Trong ngày rằm tháng Giêng, người Trung Quốc tổ chức lễ hội hoa đăng… (Ảnh Baidu)

… và ăn bánh trôi truyền thống (Ảnh Baidu)

Ngắm đèn ăn bánh trôi là hai phong tục chính trong ngày tết này. Những đèn màu trong ngày Tết Nguyên tiêu, thường làm bằng giấy màu sặc sỡ, với đủ các tạo hình như non nước, các kiến trúc, các nhân vật, hoa cỏ, chim muông v.v…

Bánh trôi của người Tàu có nhân bằng các loại hoa quả, bên ngoài lấy bột gạo nếp gói thành từng viên tròn, rồi nấu chín, ăn thơm và ngon miệng. Ngày nay, phong vị bánh trôi của mỗi địa phương cũng không giống nhau.

Ngoài ngắm đèn, ăn bánh trôi, trong ngày Tết Nguyên tiêu còn có rất nhiều hoạt động vui chơi giải trí khác như diễu hành, múa lân sư rồng…

Tổng hợp Theo Tuổi Trẻ Thủ Đô

Ý Nghĩa Của Việc Cầu An

Như vậy, khi cầu an nên hiểu căn bản của năm thứ tham nêu trên; giảm bớt ít thì an ít, giảm bớt nhiều thì an nhiều. Nếu tham luyến không còn thì bình an vô sự, đó là tôn chỉ của đạo Phật, là chân lý cứu cánh của đạo Phật, chứ Phật không phải là người ban phước giáng họa. Giáo lý của đạo phật là phương thuốc hay, khi Ngài chẩn đoán được tâm bệnh của chúng sinh (nguyên nhân bất an), Ngài giúp cho toa thần dược để trị liệu.

Khi nói về tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật vốn đã in đậm trong tâm khảm của người con Phật. Hay nói xa hơn, bất kỳ sự xuất hiện một tôn giáo nào, tôn chỉ và mục đích cũng nhằm vào sự cứu khổ (cứu rỗi), hầu đem lại sự an lạc cho mọi người hiện sống và sau khi chết, linh hồn được siêu độ (siêu rỗi) nơi sở nguyện nào đó.

Chung quy con người có khổ đau, họ mới đến với tôn giáo để cầu xin, hoặc để an ủi và làm điểm tựa của tinh thần. Còn tôn giáo cũng thế, vì con người có khổ đau, các bậc Thánh triết mới tự tìm ra một giải pháp: gọi là chân lý, rồi đem chân lý ấy hướng dẫn con người đi dần đến chỗ thoát khổ, lấy lại sự an lạc và giải thoát. Nhưng tôn chỉ và mục đích mỗi tôn giáo đều có đường hướng khác nhau.

Đơn cử như tôn giáo này hướng dẫn rằng: Nếu tin tưởng và cầu xin ta, ta sẽ ban ân và cứu rỗi cho thoát ly khổ đau. Tôn giáo nọ hướng dẫn: Phải cầu nguyện cúng kiếng, vái van thật nhiều thì thần linh sẽ phù hộ cho tai qua nạn khỏi, đem lại sự an lạc như chỗ mong cầu.

Tôn giáo khác lại hướng dẫn: Phải thi ân làm phước, tế lễ cùng thần linh thật nhiều thì thần linh sẽ phù trợ cho thoát khỏi khổ đau, hoặc phải coi tuổi tác, ngày giờ, xuất hành, khai trương, gả cưới, xây dựng, phương hướng bếp núc, cửa nẻo, phòng ốc, phong thủy Đông, Tây, Nam, Bắc, coi có phạm vào ngũ quỷ, tuyệt mạng, lục sát, họa hại hay không để tránh.

Tìm đặt lại các cung tốt: sinh khí, phục vì, diên niên, thiên y… cho đúng thì sẽ đem lại lợi lạc và an vui v.v… hoặc đêm đêm phải lạy cúng Bà Đất, Ông Trời, Thượng Động Cố Hỷ, Chúa Xứ, Vạn Ban Ngủ Hành, Thất vị Nương Nương, Cửu Phẩm Lịnh Bà, Lịnh Cô, Thổ Địa, Thổ Thần, Thổ Trạch, Thổ Công, Thổ Chủ, Thổ Táo, Thổ Kỳ, Thần Hoàn Bổn Cảnh.v.v… để cầu xin ban rỗi cho những điều mong cầu tùy tâm khấn nguyện.

Tóm lại: Con người có nhiều khổ đau, từ tinh thần lẫn vật chất, mới đi đến chỗ tín ngưỡng, để nhờ đấng tha lực nào đó tiếp giải quyết cho cuộc đời họ, đồng thời họ cũng tựa vào đức tin, họ mới có đủ niềm tin và nghị lực để phấn đấu trong cuộc sống. Chung quy chỉ vì bốn chữ bình an và lợi lộc.

Riêng có một tôn giáo, tôn giáo này không chủ trương ban phước giáng họa, tôn chỉ nhằm hướng dẫn cho con người hiểu được nhân quả và nghiệp báo, để họ tự cải hóa trong cuộc sống hằng ngày, để tìm đến an lạc và giải thoát mọi khổ đau. Còn mục đích của tôn giáo này chỉ cho con người thấy rõ được nguyên nhân từ đâu đem lại sự bất an trong cuộc sống. Nguyên nhân này từ tha lực đem đến, hay tự mình gây nên, rồi chuốc lấy, tôn giáo đó chính là đạo Phật. Thế thì, đạo Phật vẫn có chủ trương CẦU AN và CẦU SIÊU.

Vậy chúng ta muốn cầu an cho ta, cho gia đình, trước hết ta phải tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho chúng ta KHÔNG AN. (Vì không an nên mới đi CẦU AN). Trong kinh tạng và rải rác trong giáo lý, Phật dạy: “Tâm bất tham luyến, ý bất điên đảo”… (trong bài Sám Nhứt Tâm). Sở dĩ không an do tâm tham và luyến còn ý, lúc nào cũng điên đảo vọng tưởng. Vì do lòng tham dục, luyến ái và vọng tưởng, kết quả bị khổ đau.

Tiền bạc, ngọc ngà, châu báu… các thứ này nó luôn cám dỗ con người không biết sao gọi là đủ, có một trăm nó muốn một triệu, có một triệu nó muốn một tỷ, nó không lúc nào dừng lại vì “túi tham không đáy”. Khi lòng tham dấy khởi, thì ý nó phải ước mơ vọng tưởng, để đạt cho kỳ được, nếu đạt không được thì lo nghĩ trằn trọc, quên ăn, bỏ ngủ…, lâu ngày thần trí bất minh, lúc tính toán không sáng suốt, phán quyết việc gì thất bại nhiều hơn thành công.

Còn thân xác vì biếng ăn bỏ ngủ, tuy ăn đầy đủ, nhưng lúc ăn đầu óc vẫn nghĩ lo. Do đó, tuyến não thùy bị chi phối, không tiết chế cho bộ phận mật, gan, trợ cho thức ăn mau tiêu hóa, lâu ngày đau bao tử. Lúc ngủ suy tính mông lung, giấc ngủ chập chờn cho đến khi mỏi mòn, ngủ trong uể oải sinh ra nhiều bệnh tật.

Đây là nguyên nhân bất an thứ nhất, do lòng tham tài không biết đủ. Đức Phật dạy: ” Đa dục vi khổ ” (nhiều tham muốn là khổ) (Bát Đại Nhơn Giác 2)

Chữ sắc ở đây theo pháp tướng tôn thì có hai thứ sắc.

a. Sắc đẹp: đối tượng của thể xác, do lòng tham vọng không lường, hay so sánh. Đã có vợ có chồng cùng nhau chung sống rồi, thế nhưng lòng tham không muốn vô bờ bến, khi gặp người khác phái nó muốn chiếm hữu để đáp ứng sự thỏa mãn. Một khi lòng dấy lên thì ý nó phải vọng tưởng ước mơ, để rồi tìm mọi lời lẽ, mọi thủ thuật, bất chấp thuần phong mỹ tục, vợ con, bạn bè…, nói chung là bàn quan thiên hạ.

Nhưng khi đối tượng từ chối không đáp ứng lại được, thì bấy giờ tinh thần lúc nào cũng mơ mộng, thể xác biếng ăn, thẫn thờ tương tư. Rồi nó lây họa cho gia đình, làm cho cha mẹ lo lắng, vợ con buồn khổ, lâu ngày trở nên quạo quọ, cau có, làm cho bản thân và gia đình xào xáo, mất hạnh phúc, bất an.

b. Sắc pháp: Chỉ chung mọi hình tướng như : Nhà cửa, xe cộ…

Chung quy lại, nhu cầu vật chất, nếu tâm không biết đủ, ý dấy lên so sánh và ước muốn. Thấy nhà người kia đẹp hơn, thì muốn xây dựng lại cái nhà của mình bằng hoặc đẹp hơn người đó. Thấy xe người kia model mới, ta phải đua đòi sắm mới cho bằng được.v.v…, vì tham vọng đua đòi model này model nọ, rồi khởi tâm tiền vay bạc tháng để đáp ứng nhu cầu, lúc tham muốn đó nó che lấp tâm trí, tính sai nước cờ kinh tế, để rồi nhắm mắt mở mắt đến tháng đóng lãi, nợ nần chồng chất, mất ăn mất ngủ. Do lòng tham sắc không biết đủ nêu trên làm cho khổ đau. Đó là nguyên nhân bất an thứ hai.

Danh vọng, danh dự, danh tước gọi chung là danh tướng. Danh tướng từ nơi bản ngã mà sinh ra. Đức Phật dạy, danh vốn không thật có, nó là giả danh, hư vọng.

Ví dụ: tên của mình Nguyễn Văn A, vốn nó không có. Nếu nó thật có, thì lúc mẹ vừa sinh ra thì nó phải có tên là A đi. Như vậy, tên A đã không có ngay từ đầu, xong cha mẹ lại đặt cho nó cái tên A, từ đó nó có tên A rồi chấp nhận ta là tên A.

Ai đụng đến tên A, chửi đến tên A thì bênh vực nổi nóng lên, có thể chết sống vì cái tên giả danh A kia. Và chưa đủ, nó còn tham tên, muốn mọi người phải biết đến tên tuổi của mình, thán phục mình, khom cúi trước mình và địa vị phải trên mọi người v.v… Vì tham vọng như thế nên phải so tài đấu trí, khôn dại, thế thần … để thỏa mãn danh tước.

Muốn thỏa mãn danh vị bất chấp mọi thủ đoạn, mưu tính; hoặc luồn cúi như Hàn Tín, thủ đoạn như Tào Tháo, sát phạt như Napoléon như Hitlèr v.v… dẫm trên xương máu của mọi người. Chung quy chỉ vì danh vị. Một khi không đạt được thì thất vọng ê chề, đâm ra mê tín, xây nhà, sửa hướng, trấn bếp, coi tay, di dời mồ mả ông bà… để địa vị vững vàng thăng cao.

Người tham danh không biết dừng nghỉ, ý niệm luôn luôn củng cố danh vị cho mình, mải mê khoác chiếc áo danh lên mình ngã tướng, để rồi khổ đau, lo âu, sợ hãi. Hậu quả chất chồng thù oán… Cổ đức dạy: “Càng cao danh vọng, càng dài gian nan”. Đây là nguyên nhân không an thứ ba.

Phàm là con người có thân xác, cần phải ăn uống để nuôi dưỡng nó. Nhưng nếu để tâm tham, xen lẫn vào thì rất là ty tiện hèn hạ (tham ăn). Một khi tâm tham nổi lên làm mất đạo nghĩa, nhân cách và sĩ diện con người. Ví dụ: Sáng ra chợ chỉ vì một con cá, đôi bên có thể cãi vã với nhau và dập thúng lên đầu nhau. Anh em ruột thịt tham nhau một tấc đất có thể đâm chém lẫn nhau, xã hội chỉ một trái ớt, trái cà cũng cự cãi gây gỗ. Tục ngữ có câu:

“Miếng ăn là miếng tồi tàn Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”

Thế nhưng lòng tham con người vô hạn, ý nghĩ luôn luôn tính toán hơn thiệt. Chịu khó xét soi cho kỹ: một tấc đất có thể làm giàu được không? Có thể lưu giữ cho con cháu hưởng thụ đời đời hay không? Đừng nói chi cọng rau trái ớt, chỉ thưởng thức ngoài chót lưỡi chút xíu, khi nuốt sâu xuống 3 tấc nó là vật gì? Có thơm ngon không? Có đạo nghĩa lý thú không?… Tất cả đều thúi tha đáng ghét. Nhưng vì lòng tham che lấp, làm cho tối tăm tâm trí, làm cho gia đình thù hận nhau, xã hội mất phẩm chất văn hóa, quốc gia mất đạo đức văn minh, thế giới gây chiến, tàn hại sinh linh, tất cả cũng chỉ vì tham ăn. Đây là nguyên nhân bất an thứ tư.

Thùy là giấc ngủ mê, người sống trong u tối mê lầm gọi là mê ngủ hay say ngủ, phải luôn luôn tỉnh thức, cho tâm trí minh mẫn. Người tham ngủ (Thùy) biết việc đó là sai lầm, là nguy hiểm vẫn dấn thân vào, hành động cố chấp làm theo ý riêng của mình, bất chấp mọi lời khuyên bảo, đến khi đụng việc mới tỉnh ngộ là chuyện đã rồi. Sự mê ngủ này nó hàm chứa 4 loại tham: tài, sắc, danh, thực nêu trên. Vì mê lầm không nhận thức được tiền tài có nghĩa hay vô nghĩa, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống v.v… bởi nhân tố đó gây ra khổ đau lầm lạc. Đó là nguyên nhân bất an thứ năm.

Do năm nguyên nhân không an nêu trên, nó làm cho ta điên đảo trong cuộc sống, vọng tưởng những chuyện ảo huyền, tâm lúc nào cũng nơm nớp tính toan; thân hệ lụy kiệt sức mỏi mòn. Phật dạy: “Đa dục vi khổ, sanh tử bì lao, trùng tham dục khởi…”

Nếu tài, sắc, danh, thực, thùy không đáp ứng lại thì khổ đau quằn quại, còn điều nào được như ý thì tâm luyến ái không muốn buông bỏ, tâm lúc nào cũng luyến tiếc của cải, vật chất, chức tước, địa vị, ăn uống, ngủ nghỉ (mê lầm). Sự luyến ái bao giờ nó cũng vun vén cho “cái ta” (bản ngã), nào là nhà của ta, tiền bạc của ta, xe cộ của ta, vợ của ta, chồng của ta, con cháu của ta, danh vị của ta v.v. và v.v…

Phật dạy: ” Con là nợ, vợ chồng là oan gia, của cải, nhà cửa là nghiệp báo “. Vì vô lượng kiếp đến nay, chúng sinh mãi vùi đầu trong giấc ngủ say, lấy giả cho là thật, rồi cứ ôm ấp luyến tiếc. Rốt cuộc, cũng do tham luyến làm cho không an. Vì không an, nên mới ghi danh sách cúng thập tự, bá tự để CẦU AN, đến miếu môn cầu khấn ban cho những điều an. Đa số cúng kiến, vái van đều cầu cho gia đình tự thân được bình an, tai qua nạn khỏi.

Trở lại ý nghĩa cầu an trong tinh thần đạo Phật. Phật dạy: ” Thiểu dục vô vi thân tâm tự tại ” (bớt lòng tham muốn thì thân và tâm an lạc tự tại).

Như vậy, khi cầu an nên hiểu căn bản của năm thứ tham nêu trên; giảm bớt ít thì an ít, giảm bớt nhiều thì an nhiều. Nếu tham luyến không còn thì bình an vô sự, đó là tôn chỉ của đạo Phật, là chân lý cứu cánh của đạo Phật, chứ Phật không phải là người ban phước giáng họa. Giáo lý của đạo phật là phương thuốc hay, khi Ngài chẩn đoán được tâm bệnh của chúng sinh (nguyên nhân bất an), Ngài giúp cho toa thần dược để trị liệu.

Nếu người bệnh muốn hết bệnh thì nên ứng dụng toa lương dược mầu nhiệm này. Chứ còn cầm chén thuốc mà cứ nói: “Thuốc hay quá, thuốc hay quá” (vái van an bình) mà không chịu uống (không thực hiện năm điều tham luyến nêu trên) thì bệnh bất an vẫn hoàn bất an, uổng công vô ích, vô tình đưa đạo Phật vào con đường thần quyền mê tín.

Thích Nhật Quang (Chùa Long Phước, Lấp Vò, Đồng Tháp)

Thích Nhật Quang

Sự kiện nổi bật

Tìm kiếm

Ý Nghĩa Của Việc Cầu Siêu

Chữ “Siêu” có nghĩa vượt ra, vọt ra, hay thoát ra. Cầu siêu là cầu cho thân nhân quá cố của mình mau vượt ra THAM DỤC và LUYẾN ÁI, thoát ly luyến ái để vãng sinh nơi đâu đó, tùy theo sở nguyện.

Nhắc lại ý nghĩa cầu an phần trước, nếu hiện đời thoát ly được tham luyến thì an lạc, sau khi chết do nhân tố dứt trừ luyến tham, thần thức (linh hồn) chắc chắn sẽ siêu rỗi (vượt ra). Rồi cũng do nhân tố hiện đời niệm Phật thì thần thức được vãng sinh Tịnh Độ, tu Thập thiện được vãng sinh lên cõi Trời hưởng phước báu v.v… Không còn sinh tử luân hồi khổ đau nữa.

Tóm lại, hiện sống cầu an và cũng là cầu siêu cho chính mình rồi đó.

Nếu hiện đời chất chứa lòng tham tài, sắc, danh, thực, thùy, khởi tâm luyến ái không xả ly được. Do luyến ái, ôm ấp, giữ gìn, nhớ nhung… ghi vào Tàng thức (A Lại Da Thức) kết thành nghiệp. Nghiệp nó có sức hút (mạnh) lôi dẫn thần thức đi vào hướng đó (nghiệp lực).

Trong cảnh sách dạy: ” Hóc xuyên tước phi thức tâm tùy nghiệp “, nghiệp nó tùy thuộc nơi tâm, tâm hướng đâu nghiệp theo đó, như hướng bay của chim vậy. Có câu chuyện kể rằng:

Thuở đức Phật còn tại thế, có gia đình ông Phú trưởng giả nọ, rất mực cung kính cúng dường Phật. Thường ngày đi khất thực, Phật đi ngang qua nhà ông Phú trưởng giả. Ông ta sắm sửa thức ăn sẵn, chờ Phật đi ngang qua, Ông ra cung đón Phật vào để cúng dường.

Một hôm, Phật đi khất thực gần đến nhà, mà những người nấu bếp loay hoay chưa xong, ông trưởng giả phải xuống bếp để thúc hối. Lúc ấy, đức Phật đã đi đến trước cổng nhà, ông không kịp ra cung đón Phật, có con chó rất mực cưng yêu của ông trưởng giả, nó chạy ra vồ sủa đức Phật. Lúc bấy giờ, Phật dùng chánh định quán biết con chó và Phật dùng Phạm âm thuyết pháp cho con chó nghe, sau khi nghe xong, nó liền riu ríu đi thẳng vô nhà, đến chỗ bàn thờ nằm đó, mà nước mắt con chó chảy ròng ròng.

Khi ông trưởng giả dâng cúng cho Phật rồi, ông liền bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay vì bận việc thúc hối bọn người nấu bếp nên không kịp ra cung đón đức Thế Tôn, lúc đó con chó của con nó ra vồ sủa, xong đức Thế Tôn dạy gì với nó mà bây giờ nó buồn hiu nằm nơi giường thờ mà hai hàng nước mắt rưng rưng? Ngưỡng bạch đức Thế Tôn chỉ dạy cho con được biết.

Phật mỉm cười và nói rằng: “Này ông trưởng giả, con chó ban nãy đâu phải ai xa lạ, chính là cha ruột của ông, lúc sinh tiền cha ông tu rất nhiều công đức. Lẽ ra, sau khi chết, thần thức sẽ sinh lên cõi Trời, để hưởng phước báu. Nhưng lúc cha ông hấp hối quá nhanh, không kịp trối lại cho ông. Số là cha ông lúc sinh thời có chôn cất một lu vàng nơi đít giường thờ. Do đó thần thức sắp rời khỏi xác lưu luyến lu vàng mà phải nhập thai vào con chó.

Từ ngày ông nuôi con chó này, ông rất mực cưng yêu và con chó không chịu ngủ ở đâu hết, chỉ nằm nơi giường thờ. Vậy ông phải mau sai người đào lên trước mặt con chó, để cha ông an lòng mà thác sinh nơi Thiên giới. Ông trưởng giả vâng lời làm y như vậy, quả nhiên lấy được lu vàng và 7 ngày sau con chó tự nhiên chết. Ông trưởng giả đến tịnh xá trình lên Phật. Phật nói nay cha ông thoát khỏi kiếp chó, sinh về cõi Trời rồi đấy.

Câu chuyện trên cho thấy tâm lưu luyến có hại vô cùng. Lúc sinh tiền luyến ái con cái, sau khi chết, nghiệp thức cũng lẩn quẩn bên con cái, hoặc làm con của con mình, hoặc làm chó, làm mèo để gần gũi bên con. Cho đến nhà cửa, sự sản, chồng vợ v.v… Cũng thế, quan trọng trong lúc sinh tiền chớ nên tham và luyến, sau khi xả báu thân này chắc chắn siêu thoát, khỏi phải nhờ con cháu đi cầu siêu. Hiểu được vậy ta hãy tự siêu đi, không ai siêu tiếp cho ta được.

1. Nghiệp chướng của chúng sinh vô lượng kiếp đến nay xâu kết tham luyến rất nặng nề. Hôm nay mới hiểu đạo, nên phát tâm xả bỏ nghiệp tham luyến trong một đời, chưa hẳn đã dứt hết. Tuy nhiên, nhờ có ý thức xả ly và tập tành xả ly. Nếu trong lúc chết, nghiệp tham luyến nhiều kiếp nó có dấy khởi lên ngăn che chánh niệm (chướng). Trong lúc đó, nếu có chư tăng đến khai thị hoặc con cháu nhắc nhở, thì thần thức nghe qua và thức tỉnh lại, dẹp bỏ cấu trần luyến nhiễm, hướng tâm niệm Phật cũng được siêu thoát. Nhưng nhớ rằng phải tập tu hiện đời cho thuần quen đi đó là tự lực siêu độ.

2. Theo trong kinh Địa Tạng, đức Phật dạy: “Người quá cố linh hồn đọa lạc nơi chốn u đồ, khổ đau không kể xiết, linh hồn luôn luôn hướng về thân nhân con cái, họ rất mong con cái tu tạo phước đức để hồi hướng, thì người chết kia có được một phần nhẹ nhàng.

Với ý nghĩa cầu an, cầu siêu cho ta thấy tinh thần đạo Phật chú trọng vào định thuyết Nhân – Quả. Đức Phật đã chứng đắc chân lý Nhân – Quả đó, Ngài chỉ dạy cho chúng sinh thấy được Nhân – Quả để chuyển đổi nhân thiện sẽ gặt quả lành, nhân ác sẽ gặt quả dữ. Tự chúng sinh gieo nhân nào gặt quả ấy. Phật, Thánh không thể nhúng tay mà hoán cải được. An hay bất an, siêu hay chẳng siêu cũng thế!

Nguyên nhân do tâm THAM và LUYẾN, ý theo đó ĐIÊN ĐẢO vọng tưởng làm cho thân tâm không an. Vậy cầu an có nghĩa là cắt đứt lòng tham luyến, không cho tâm điên đảo, mơ mộng, khi đó đã an ổn và cũng từ cái nhân hiện đời thân tâm an ổn. Sau khi chết chắc chắn sẽ được siêu thoát ra khỏi cái vòng tham luyến, tâm lúc bấy giờ an trụ trong chính niệm thì phải giải thoát thôi.

Thích Nhật Quang (Chùa Long Phước, Lấp Vò, Đồng Tháp)

Thích Nhật Quang