Top 7 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Cúng Quá Đường Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Ý Nghĩa Nghi Quá Đường Và Cúng Đại Bàng.

Quá đường là tên gọi khác của chữ ăn cơm dành cho người xuất gia, nhân vì người xuất gia không ăn sau giờ ngọ, chỉ ăn buổi sáng và giờ ngọ, cho nên gọi là nhị thời Lâm trai. Trai là nói theo nghĩa rộng, chỉ cho thân tâm thanh tịnh, ngăn chặn sự lười biếng của thân tâm, còn nói theo nghĩa hẹp là chỉ cho 8 pháp trai giới, hoặc chỉ cho giới quá ngọ không ăn. Pháp hội cúng dường thức ăn phẩm vật gọi là Trai thực. Ngoài ra dùng thực vật để cúng dường chư Tăng, cũng xưng là Trai. Pháp hội này gọi là Trai Hội. Phật giáo cho rằng buổi sáng là chư Thiên ăn, buổi trưa là Phật ăn, sau giờ ngọ là loài súc sanh ăn, buổi tối là ngạ quỉ ăn, vì thế buổi tối nghe tiếng chén bát khua lên thì trong cổ của loài ngạ quỉ bốc cháy, chẳng những không được ăn uống mà còn tăng thêm sự thống khổ. Vì lòng từ bi đối với loài ngạ quỉ cho nên ban đêm không ăn. Duyên khởi giới không ăn phi thời của Tỳ kheo là do Ngài Ca Lưu Đà Di buổi tối vào trong thôn khất thực, bấy giờ sấm chớp lóe lên, người phụ nữ trong xóm mang thức ăn đi ra, thấy sấm chớp ánh lên qua làn da đen bóng ngời của Ngài, cô ta tưởng là quỉ nên vô cùng sợ hãi và té xuống đất bất tỉnh, vì lúc ấy cô đang mang thai nên nhaân trải qua sự hoaûng sôï mà sanh non, do đó cô mới mắng Ngài Ca Lưu Đà Di: “Người xuất gia theo Phật, thà rằng rọc bụng mà chết đói còn hơn đi xin ăn buổi tối như thế này”. Sau khi đức Phật biết được điều đó, Ngài liền qui định các Tỳ kheo không nên ăn sau giờ ngọ.

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc do điều kiện xã hội và văn hóa dân tộc bất đồng cho nên việc đi khất thực giống như ở xã hội Ấn Độ không được thuận tiện cho lắm. Vào thời Nam Bắc triều các tự viện thuận theo kinh tế phát triển của xã hội nên các Tăng sẽ không nương theo cách khất thực để duy trì sinh hoạt thường nhật. Vả lại, sau đời Đường, Thiền Tông trong Phật giáo chủ động lưu hành đề xướng thêm ” Một ngày không làm, một ngày không ăn“. Yêu cầu các tự viện tham gia lao động, cho nên ngoài số ít Tăng sĩ còn giữ qui tắc qua giờ ngọ không ăn, còn đại đa số là ngày ăn ba bữa. Thế nhưng chỉ có buổi sáng và trưa là cử hành theo Nghi thức Quá Đường, đây chính là “Nhị Thời Lâm Trai Nghi”.

1. Vào thời quá khứ có một loại Đại bàng kim xí điểu, thân nó to rộng, một khi giương đôi cánh ra thì bay cả vạn dặm, do đó mà số lượng thức ăn của nó cũng nhiều. Nó chỉ ăn thịt loài rồng ở trong biển. Long Vương sợ hãi nên đến xin cầu đức Phật cứu giúp. Đức Phật bèn lấy một miếng ca sa buộc trên sừng của các con rồng, do đó Đại bàng không dám ăn thịt. Thế nhưng Đại bàng đói khát khó chịu nên đến cầu Phật, Phật bèn dạy phương pháp xuất sanh để thí cho Đại bàng.

2. Vào đời quá khứ có một người phụ nữ nhân vì sân hận mà phát ra lời thề ñoäc: “Ta seõ ăn thịt những đứa con nít trong thành Vương Xá”. Về sau đầu thai làm loài Dạ xoa và sanh ra 500 đứa con, mỗi một bữa ăn là baét ăn thòt một đứa con trai và một đứa con gái trong thành Vương Xá. Người dân trong thành Vương Xá cầu cứu với Đức Phật, Phật dùng thần lực bắt cóc giấu đứa con út mà nó thương nhất. Nó bèn đến cầu cứu đức Phật, đức Phật bảo: “Ngươi có đến 500 đứa con, chỉ mất có một đứa mà còn đau khổ hối tiếc như vậy, huống chi kẻ khác chỉ có 2 đứa mà ngươi còn bắt cóc, thì họ đau khổ biết dường nào”. Quỉ nói: “Vậy con và 500 đứa con của con phải sống bằng cách nào?” Phật bèn dạy phương pháp xuất sanh.

3. Vào đời quá khứ ở khoảnh đất trống, có một ác quỉ chuyên môn ăn thịt người. Sau khi tiếp nhận lời giáo hóa của đức Phật bèn không dám ăn thịt người nữa, do đó cũng đến cầu cứu đức Phật. Thế nên đức Phật sai hàng Thanh Văn đệ tử vào mỗi thời ngọ trai phải xuất sanh, để khiến cho chúng no đủ, mãi mãi không còn bị đói khổ nữa.

Cúng dường thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật.

Viên mãn báo thân Lô Xá Na Phật.

Thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật.

Đương lai hạ sanh Di Lặc tôn Phật.

Cực lạc thế giới A Di Đà Phật.

Thập phương Tam thế nhất thế Chư Phật.

Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.

Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát.

Đại Bi Quán Thế âm Bồ tát.

Chư tôn Bồ tát Ma ha tát.

Ma ha Bát nhã Ba la mật.

Tam đức lục vị cúng Phật cập Tăng.

Pháp giới hữu tình phổ đồng cúng dường.

Nhược phạn thực thời.

Đương nguyện chúng sanh.

Thiền duyệt vi thực.

Pháp hỉ sung mãn.

Nếu như ăn cháo sáng thì đem từ câu “Tam đức lục vị” sửa thành:

Xuất thực nếu buổi sáng thì đi ra ngoài thầm niệm bài kệ:

Nếu giờ ngọ trai thì thầm niệm bài kệ chú:

Đại bàng kim xí điểu.

Khoáng dã quỉ thần chúng.

La sát quỉ tử mẫu.

Cam lộ tất sung mãn.

Xuất thực xong trở về chỗ vấn tấn.

Duy Na xướng: Phật chế Tỳ kheo thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu. Chư sư (đại chúng) văn khánh thinh, các chánh niệm. (đánh 1 tiếng dẫn khánh). Đại chúng niệm: A Di Đà Phật. Sau đó bắt đầu ăn cơm.

Khi đại chúng ăn cơm xong, đọc kết trai, Duy Na xướng đại chúng cùng hòa theo:

Nam mô Tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha.

Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

Sở vị bố thí giả.

Tất hoạch kỳ lợi ích.

Nhược vị lạc cố thí.

Hậu tất đắc an lạc.

Nếu như có trai chủ cúng dường tiền tài thì niệm thêm: Tài pháp nhị thí đẳng vô sai biệt, đàn ba la mật cụ túc viên mãn.

Khi niệm xong vị Tăng trò xướng: Kết trai.

Khi thọ trai không được để bát đũa khua ra tiếng. Lại cũng không được nói chuyện.

Nghi quá đường trong Phật giáo không phải chỉ để ăn cơm, mà là một Phật sự, trước có cúng Phật, Thí thực, sau mới Kết trai. Trải qua một quá trình trang nghiêm và thanh tịnh.

10 Bài Phục Nguyện Cúng Quá Đường

Nhất bát thiên gia phạn, Tỳ kheo chung thân cầu đạo nhất thừa.

Nhất niệm bất sanh, hành giả quyết định nhất sanh bổ xứ.

Nhất nhật bất tu nhi nhất kiếp thọ khổ luân hồi,

Nhất nhật bất tác nhi nhất nhật bất thọ cúng dường chi tín thí.

PHỔ NGUYỆN :

Nhất cú Di Đà vô biệt niệm, nhất sát na khoảnh trực đáo tây phương.

Nhất sanh sở hệ vạn duyên, nhất đán vô thường tùy nguyệp dẫn.

Quán nhất thiết giai không, ư không môn nhất nhất chúng sanh giai cộng thành Phật đạo.

2

Công phu nhị khóa, đạo tràng cầu bất nhị pháp môn.

Nhị đế dung thông, do Bồ tát ư sắc không vô nhị biệt.

Tử sanh nhị lộ, đản do bất đoạn ái duyên,

Kiến chấp nhị biên, chỉ ư bất tu bất học.

PHỔ NGUYỆN :

Sanh sanh thế thế tu hành, nguyện bất thọ nhị căn, bất năng nhị thiệt, bất kiết nhị duyên, bất tuyên nhị giáo.

Đệ tử chúng đẳng bất cầu nhị thừa nhân thiên phước báo, đản cầu nhị quả đẳng giác Bồ đề, đắc chứng nhị nghiêm, đáo sanh khổ xứ, độ tận chúng sanh tề thành Phật đạo.

3

Tam ngoạt an cư, thiền đường lễ Tam bảo, kết tam quy, an trú tam vô lậu học.

Tam thời thọ thực, đại chúng quán tam đề, niệm tam tâm vị liễu nan miễn tam đồ.

Dục ly tam giới nội, tam duyên từ thường khởi ư tâm,

Yếu đoạn tam chướng nạn, tam thừa Thánh quả nguyện thừa đương.

PHỔ NGUYỆN :

Thí chủ tấn tam đa, đàn na ly tam độc, cầu đắc tam muội, hồi hướng tam miệu tam bồ đề.

Chúng đẳng hành tam quán, đoạn tam hoặc, chánh niệm tam ma địa, chuyển tam pháp ấn, độ chúng sanh nhi tề thành Phật đạo.

Hiện tiền tứ chúng Phật đà, thâm tu tứ quả Niết bàn, cầu giải thoát tứ hàm linh.

Thừa tứ diệu đế Phật thuyết, hóa độ tứ châu thiên hạ,đồng chứng quả vị tứ thiền.

Tứ bát đoan nghiêm vi diệu tướng, tận trừ tứ bách tứ bệnh tùng khẩu thực chi ương,

Tứ thập bát nguyện độ hàm linh, tiếp dẫn tứ chúng môn nhơn tọa liên đài chi thượng phẩm.

PHỔ NGUYỆN :

Tứ vô ngại biện, viên thành tứ trí Bồ đề.

Tứ tất đàn tâm, độ nhân tu tứ niệm xứ.

Dục báo tứ đại trọng ân, tất tiên tứ sự cúng dường,

Dục ly tứ đại vô thường, thường hành tứ thắng nghĩa đế, thệ nguyện tứ khổ bất vong, bất năng tề thành Phật đạo.

5

Ngũ canh thượng điện công phu,

Ngũ căn ngũ lực cần tu nhiếp trì.

Ngũ vô gián tội tham si,

Ta bà ngũ trược nguyện ly luân hồi.

Đệ tử chúng đẳng dĩ ngũ âm, nhật nhật tán thán ngũ phương ngũ Phật,

Dĩ ngũ thể đầu địa, thời thời lễ sám ngũ hối quá, nguyện tiêu trừ ngũ chướng duyên.

PHỔ NGUYỆN :

Nhứt thiết chúng sanh nhị thập ngũ hữu, đồng gia trì ngũ bộ chú, tăng trưởng thiện căn,

Nhứt thiết hữu tình, bất trụ ngũ tịnh cư thiên, đản cầu vô trụ xứ Niết bàn, hoàn lai Ta bà hóa đạo hữu duyên, tề thành Phật đạo.

6

Thiền đường nghiêm tịnh, đại chúng trú dạ lục thời thường hành lục ba la mật,

Trì lục căn dĩ tức lục trần, điều lục thức bất mê ư lục dục.

PHỔ NGUYỆN :

Thập loại hàm linh, siêu lục thú nhi chứng đắc lục thông,

Pháp giới chúng sanh, thóat lục đạo nhi viên thành Phật đạo.

7

Thất bộ liên hoa tùy địa phát, Như lai xuất thế độ quần sanh,

Thất tổ gia tiên đồng siêu độ, trượng thừa Tăng chúng tổng gia trì.

Thất Bồ đề phần huân tập tu thân,

Thất tụ tịnh giới tinh trì huệ mạng.

PHỔ NGUYỆN :

Thất câu chi Phật mẫu gia ân, quá khứ thất Phật chứng tri sám hối,

Nguyện đệ tử chúng đẳng, đắc thất thánh tài thường chuyển pháp luân, kiến thất giác chi nhi tề thành Phật đạo.

8

Bát tướng thành đạo, phá trừ bát nạn tam đồ,

Bát pháp đốn không, thị thân tâm ly ư bát khổ.

Bát âm vi diệu, huỳnh kim điện thượng phúng diễn lan hàm,

Bát giáo hoằng tuyên, bảo tọa giảng đường thời thời thính pháp.

PHỔ NGUYỆN :

Bát bộ Kim cang thường hộ niệm. Bát chánh đạo thường xử thế nhân,

Bát phong bất động ư đạo tràng, Bát nhã trí viên thành Phật đạo.

9

Cửu long phúng thủy, Từ phụ đản sanh ư Tây trúc,

Cửu niên diện bích, Đạt mạ truyền pháp độ Đông lai.

Trì cửu lễ bái nhật nhật bất quyên,

Quán cửu khiếu tưởng thời thời bất tịnh.

PHỔ NGUYỆN :

Cửu lưu chánh pháp hoằng tuyên, bất triêm cửu nạn ư thân,

Cửu phương hành đạo Bồ đề, bất cầu sanh cửu thiên giới thượng.

Chuyên tâm niệm Phật, nguyện sanh cửu phẩm liên hoa,

Khai chuyển báo thân, diện kiến Di Đà, tề thành Phật đạo.

10

Thập hiệu Như Lai, hóa đạo thập phương sa giới,

Thập niệm Di Đà, vãng sanh thập thánh tam hiền.

Xuất gia thập giới Sa di, chỉ qui thập phát thú địa,

Cư thế thập thiện nghiệp đạo, chánh báo thập hồi hướng tâm.

PHỔ NGUYỆN :

Vu lan thắng hội, nguyện báo thâm ân thập ngoạt hoài thai,

Chẩn tế mông sơn, thí vô giá thực thập loại cô hồn.

Đệ tử chúng đẳng nguyện tức thập triền, nguyện đoạn thập sử,

Cộng chúng sanh thế thế đồng tu thập độ, đồng ngộ thập sư, đồng thể tâm từ, đồng cư Phật đạo.

Thích Đồng Bổn

Việc Cúng 49 Ngày Cho Người Quá Vãng Có Ý Nghĩa Gì?

Việc con cháu tụng kinh niệm Phật cho người thân của mình trong vòng thời gian 49 ngày, đó là điều rất quý kính. Đây cũng là noi theo trong kinh dạy mà Phật tử làm theo. Tuy nhiên, điều quan trọng là trong khi tụng niệm, mọi người phải thành tâm, đem hết lòng thành để tụng niệm cầu nguyện.

>>Phật tử có thể đọc loạt bài về Kinh Phật

Ý nghĩa của việc cúng 49 ngày cho người quá vãng

Mục đích là nhờ sức chú nguyện của chư Tăng Ni, gọi là đức chúng như hải, mà hương linh thác sanh về cảnh lành.

Theo kinh Địa Tạng nói: Người chết sau 49 ngày, gọi là chung thất, thì vong linh của người mất, tùy nghiệp mà thọ sanh chiêu cảm quả báo. Nếu hiện đời tạo nhiều điều lành, thì sẽ thọ sanh về cảnh giới an lành. Ngược lại, thì thọ sanh vào cảnh khổ. Tùy chỗ tạo nghiệp thiện ác, mà thọ sanh qua các loài và các cảnh giới sai biệt trong vòng lục đạo luân hồi. Cũng chính theo lời dạy nầy, mà Phật tử thường hay cúng Trai Tăng vào ngày chung thất.

Mục đích là nhờ sức chú nguyện của chư Tăng Ni, gọi là đức chúng như hải, mà hương linh thác sanh về cảnh lành. Tuy nhiên, nếu luận theo ý nghĩa của hai chữ cầu siêu, thì không phải chỉ trong 49 ngày thôi. Vì cầu siêu có nghĩa là cầu mong vượt qua: “Từ cảnh giới tối tăm xấu ác, vượt qua đến cảnh giới tốt đẹp an lành”. Hiểu theo nghĩa đó, thì lúc nào ta cũng phải cầu siêu, cầu siêu cho chính bản thân ta, đồng thời cũng cầu siêu cho mọi người luôn luôn được sống trong an lành.

Theo ý nghĩa đó, thì lúc nào ta cũng phải cầu siêu cho ta và cho người mãi mãi thoát khỏi khổ đau để được an vui giải thoát, chớ không phải chỉ trong phạm vi 49 ngày thôi.

Vì thế, sau 49 ngày, Phật tử và những thân nhân trong gia đình tiếp tục tụng kinh niệm Phật, thì đó là điều rất tốt. Dù cầu siêu hay không, người Phật tử cũng nên tụng kinh niệm Phật để cho hiện đời mình được an lạc và đời sau cũng được an lạc.

Và sau mỗi lần tụng kinh niệm Phật như thế, thì Phật tử cũng nên cầu nguyện cho hương linh thân nhân của mình, cũng như cho những vong hồn khác, rộng ra là cho cả pháp giới chúng sinh hữu tình vô tình đều trọn thành Phật đạo. Đây là thể hiện tấm lòng từ bi vị tha của người Phật tử, như thế, cũng rất là tốt đẹp vậy.

49 ngày sau khi mất thân quyến nên làm gì cho người quá vãng?

Sau 49 ngày, Phật tử và những thân nhân trong gia đình tiếp tục tụng kinh niệm Phật, thì đó là điều rất tốt. Dù cầu siêu hay không, người Phật tử cũng nên tụng kinh niệm Phật để cho hiện đời mình được an lạc và đời sau cũng được an lạc.

Thực hành theo Phật pháp

– Điều căn bản và quan trọng nhất là gia đình nên y theo Phật pháp để giúp cho vong linh được siêu thoát.

– Trong đám tang người quá cố, khi nhập liệm, gia đình nên mang những đồ quý báu của người mất bố thí cho người nghèo rồi hồi hướng công đức ấy cho người chết.

– Nên làm lễ tang đơn giản, vì càng rườm rà càng hao tốn tiền của, sức lực một cách vô ích, người chết không những không được lợi ích gì, có khi còn phải gánh chịu thêm nghiệp quả xấu do thân nhân gia đình không biết tạo thêm nghiệp tội. Gia đình phải biết tiết kiệm phước, không được có bất cứ hành vi phung phí gạo, rau… Phải vì người chết mà tích phước, làm việc công đức như: cúng dường Tam bảo, phóng sinh, in kinh, cứu giúp người nghèo khổ… Đem những công đước này hồi hướng cho người vãng sinh, họ sẽ được lợi ích thù thắng, không gì sánh bằng.

– Từ lúc người chết ra đi cho đến 49 ngày, gia đình thân quyến chớ có sát sinh đãi đằng cúng tế, vì làm vậy người mất sẽ bị oan đối không được siêu thoát.

– Gia đình tiếp tục luân phiên niệm Phật và khai thị nhắc nhở hương linh, thì nhất định sẽ giúp người thân mình được giải thoát.

– Đối với Pháp sư, gia đình nên chọn mời những bậc đạo hạnh chân chính.

– Trường hợp này, các thiện tri thức phải dùng những lời như sau đây mà khai thị cho hương linh: “Phật biết rằng thân của bậc tăng-già tên… tức là thân của Phật. Ngươi phải khởi ý tưởng rằng chỉ nương theo pháp, chứ không nương theo người. Mặc dù người tác pháp đó có lầm lỗi thế nào đi nữa, đều là do cái lỗi của ý thức chưa được trong sạch đó thôi. Tỷ như người soi gương, vì mặt mình không sạch, nên cái bóng trong gương cũng nhơ bẩn. Vậy thì biết chắc rằng sở dĩ kẻ tác pháp có sai lầm, đều do tâm niệm của ngươi chưa trong sạch vậy. Ngươi nên khởi tưởng như thế và phải hết lòng cung kính ái mộ, thì việc làm gì cũng đều biến thành Phật sự thanh tịnh và mình vẫn không mất lợi lạc”.

– Gia quyến trước khi rước Pháp sư làm Phật sự, cũng nên đối trước bàn hương linh mà khai thị bảy phen như thế, thì dù trong khi làm Phật sự có đôi chút sai lầm, cũng vẫn được.

Điểm trọng yếu của việc phước thiện là phải lấy hạnh bố thí làm gốc. Để hương linh được lợi ích, gia đình đem di sản của người chết đi bố thí là tốt hơn hết. Nếu không, thì bố thí của cải của gia đình người thân hoặc của bà con, bạn bè mà giúp vào cũng được, người chết chắc chắn được lợi ích.

Kinh Vô thường đã nói: “Sau khi người thân mất, gia đình nên lấy y phục mới mẻ của người chết, hoặc lấy những vật thọ dụng của kẻ còn sống: chia làm 3 phần, vì người chết đó mà cúng dường Phật-đà, Đạt-ma và Tăng-già (Tam bảo). Nhờ đó mà người chết dù nghiệp nặng cũng trở thành nhẹ và được công đức phước lợi thù thắng. Không nên đem những y phục tốt đẹp mặc cho người chết để đem đi tống táng. Vì sao? Vì không có lợi gì. Chỉ nhờ những công đức làm việc phước báu nói trên, người chết dù đọa vào Ngạ quỉ, cũng được hưởng rất nhiều lợi ích”.

Trong kinh Ưu-bà-tắc cũng có nói: “Nếu người cha chết rồi bị đọa vào trong Ngạ quỉ, mà người con vì cha làm những việc phước đức, nên biết, người cha liền được hưởng thọ. Nếu được sanh lên Trời thì người chết không còn nghĩ đến vật dụng trong cõi Người nữa. Vì sao? Vì ở cõi Trời, người ta đã được đầy đủ bảo vật thù thắng rồi. Nếu phải đọa vào địa ngục, thì thân họ phải chịu bao nhiêu khổ não, không được thảnh thơi để nhớ nghĩ luyến tiếc mọi vật, vậy nên không được hưởng thọ. Kẻ đọa vào súc sanh, nên biết cũng như thế. Nếu hỏi tại sao ở trong ngạ quỉ người chết có thể liền được hưởng thọ lợi ích, thì biết vì người ấy sẵn có lòng tham lam bỏn xẻn, cho nên phải đọa vào ngạ quỉ. Khi đã làm ngạ quỉ, họ thường hay hối hận tội lỗi ngày trước, suy nghĩ muốn được lợi ích, bởi thế họ được hưởng lợi ích”.

Đấy là nói rõ chỗ lợi của quỉ thú, còn đối với công phu làm việc phước thiện, thật không luống uổng, vì không những kẻ chết, mà người sống hiện tại cũng chung phần được hưởng. Như trong kinh nói: “Nếu như kẻ chết đã thác sinh vào ác đạo khác, nhưng còn bao nhiêu bà con còn đọa trong ngạ quỉ, nếu người sống có làm việc phước đức, tức thì họ cũng đều được lợi ích. Vì thế, người có trí, nên vì ngạ quỉ mà siêng năng làm việc công đức”.

Lưu ý rằng khi lấy di sản của kẻ chết làm việc phước đức, trước hết phải xét rõ người ấy lúc còn sống, tính tình có bỏn sẻn không. Điều này rất quan trọng, vì khi thấy gia đình người thân đem di sản của mình ra làm Phật sự hay bố thí, thấy vật dụng đó bây giờ thành sở hữu của kẻ khác, người chết liền sanh lòng giận hờn, tiếc nuối, rồi khởi lên tà niệm, liền bị nghiệp lực dắt vào ác đạo.

Cho nên thiện tri thức hoặc người thân gia đình phải khai thị cho người chết những lời như sau đây “Ông/bà tên… Nay ta vì ông/bà mà đem di sản của ông/bà làm Phật sự hay bố thí. Làm như thế, tức là lấy của cải hữu lậu làm việc vô lậu, nhờ ở công đức này, ông/bà sẽ được siêu sanh Tịnh độ, thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi. Ông/bà phải chăm lòng thành kính niệm Phật A-di-đà, cầu Ngài đến cứu độ cho. Đối với di sản, ông/bà cần phải rời bỏ, chớ nên bận lòng, phải hoàn toàn không mến tiếc tham đắm mới được. Vì những thế tài (tài sản thế gian) dù có hoàn toàn để lại, ông/bà cũng không thể thọ dụng được nữa. Như thế, đối với ông/bà, chúng đã thành vô dụng, còn luyến tiếc làm gì?”.

Về cách sắp đặt cúng tế, thì rất kỵ việc sát sinh, vì việc sát sinh càng làm liên lụy khổ quả cho người chết. Thân trung ấm nếu một phen thấy được việc ấy lập tức bảo thôi; nhưng ngặt nỗi âm, dương cách trở, người thân gia đình không thể nào nghe được, vẫn trở lại sát sanh như thường. Kẻ chết không thể ngăn nổi sân niệm khởi lên, liền phải đọa vào địa ngục. Cho nên người sắp đặt cúng tế cần phải cẩn thận chú ý.

Nếu muốn cúng tế, thì nên dùng đồ chay, hương, hoa, sữa, bánh và trái cây, chớ dùng những đồ uế tạp và sát hại sanh vật. Kinh Địa Tạng đã nói: “Làm những việc sát hại, cho đến bái tế quỉ thần đã không có một mảy may phước đức, không có lợi gì mà còn kết thêm tội lỗi sâu nặng cho người chết. Dù cho người chết, đời sau hoặc đời này có thể chứng được Thánh quả, hoặc sanh lên Trời, nhưng khi lâm chung bị gia đình làm những ác nhân ấy (tức là nhân sát hại) làm cho họ phải liên lụy nhiều bề, chậm sanh về chỗ lành. Huống chi kẻ chết đó khi sống còn chưa từng làm một chút việc lành, chỉ một bề nương theo gốc nghiệp mà tạo tác, theo lý phải chịu vào ác thú. Nỡ nào gia đình người thân lại gây thêm nghiệp cho họ?”. Gia đình nên lưu tâm đến điều này.

Bài viết sử dụng tài liệu từ Trợ Giúp Người Khi Lâm Chung – Tỳ kheo Thích Nhuận Nghi cẩn biên

Thanh Tâm (Tổng hợp)

6 Lưu Ý Trong Quá Trình Đi Cúng Viếng Tang Lễ

Cúng viếng tang lễ là biểu hiện tình cảm sâu nặng của những người trong họ tộc. Của bà con trong xóm làng, ngoài làng ở cộng đồng dân cư và của các cơ quan đoàn thể đối với người quá cố. Đến chia buồn với gia đình và tỏ lòng thương cảm, thắp nén nhang để vĩnh biệt người đã khuất. Dù bận rộn đến đâu cũng thu xếp về, không quản đường xá xa xôi cố gắng đến kịp trước giờ an táng với tấm lòng “nghĩa tử là nghĩa tận!”.Khi đi dự đám tang bạn cần thận trọng trong từng lời ăn tiếng nói,từng hành động để tránh mang tai tiếng và làm mất lòng gia chủ.

Tránh ăn nói lớn tiếng hay vui đùa quá trớn

Trong quá trình cúng viếng tang lễ thì cần chú ý ăn nói nhỏ nhẹ, tránh gây ra những tiếng nói lớn hay ồn ào làm đả động đến linh hồn người chết, làm ảnh hưởng đến buổi lễ.

và cũng không thể hiện sự lịch sự.

Nên mặc đồ lịch sự, tối màu

Không ai đến cúng viến mà mà lại mặc đồ quá sặc sỡ, trang điểm đậm điều này sẽ làm cho người khác nghĩ mình không hiểu lễ nghĩa cũng như trong tang lễ luôn thể hiện sự ưu buồn, mất mát, chia ly nên không được phá vỡ bầu không khí đó.

Có nên mua trước đất nghĩa trang cho người sống

Tránh để nhạc chuông điện thoại lớn

Trong buổi cúng viếng tang lễ, người đi cúng viếng cũng lưu ý nên để chế độ điện thoại nhỏ để tránh trường hợp có người gọi tới chuông reo to, hoặc có nhạc vui nhộn tạo hình ảnh không hay trong buổi cúng viếng.

Không ai đến cúng viếng tang lễ mà mà lại mặc đồ quá sặc sỡ, trang điểm đậm điều này sẽ làm cho người khác nghĩ mình không hiểu lễ nghĩa cũng như trong tang lễ luôn thể hiện sự ưu buồn, mất mát, chia ly nên không được phá vỡ bầu không khí đó.

Kiêng để người già yếu, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và người bị chó cắn đi kính viếng tang lễ

Người mất nhiệt sẽ luôn luôn lạnh hơn so với nhiệt của người bình thường cũng như môi trường xung quanh. Vì vậy, trong quá trình cúng viếng tang lễ người ta thường kiêng không cho các bậc cao lão, phụ nữ có thai và trẻ nhỏ đến dự lễ khâm niệm, an táng và cải táng vì sợ sẽ bị nhiễm phải hơi lạnh (mắc hơi) mà ốm.

Nếu có cụ già, trẻ nhỏ hay phụ nữ mang thai ở gần gia đình có tang lễ, người ta nên đặt ở cửa ra vào một lò than đốt vỏ bưởi và bồ kết để trừ uế khí. Những người bị chó dại cắn cũng phải tuyệt đối không được đến gần đám tang vì khi nhiễm phải hơi lạnh sẽ lên cơn dại mà chết

Lưu ý kiêng đi nhanh khi khiêng linh cữu

Dân gian có tục giữ cho thi hài người chết được nằm yên, cho nên khi khiêng linh cữu cần phải nhẹ nhàng, thậm chí còn phải cố tình khiêng chậm để thể hiện sự lưu luyến với người đã khuất.

Cách vái lạy khi đi cúng viếng tang lễ

Quan niệm về lạy khi đi cúng viếng tang lễ cũng có nguyên tắc:

– Khi người quá cố còn chưa an táng (mặc dù đã liệm trong quan tài) thì vẫn được xem như người còn sống nên để lạy đúng thì chỉ LẠY 2 lạy (và vái 2 vái).

– Một số gia đình để bàn thờ Phật trước hương án có di ảnh người quá cố thì người đi đám lạy bàn thờ Phật 3 lạy và 2 vái, tiếp đó lạy trước bàn hương án có di ảnh người quá cố 2 lạy (như lạy người sống).

– Khi đến thắp hương cho người quá cố (đã được an táng rồi) thì lạy 4 lạy và vái 3 vái.

– Trong trường hợp người quá cố còn để trong quan tài tại nhà, người đến cúng viếng tang lễ, nếu là vai trên của người quá cố như các bậc cao niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, của người quá cố, thì chỉ đứng để vái 2 vái mà thôi.

Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.