Top 6 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Lễ Cúng Rằm Tháng 7 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Herodota.com

Cúng Rằm Tháng 7. Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Bài Cúng Rằm Tháng 7

Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Cúng rằm tháng 7.

Về sau, người ta thường gọi ngày Cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu, và được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 âm lịch hằng năm. Về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Cho nên ngày nay mới có câu “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Tháng 7 âm lịch có hai lễ lớn là Lễ cúng cô hồn (Cúng rằm tháng 7) và Lễ Vu Lan

Đa phần mọi người thường hay nhầm lẫn Lễ Vu Lan và Cúng rằm tháng 7 là 1. Tuy nhiên trên thực tế mục đích của hai ngày lễ này là hoàn toàn khác nhau.

Lễ Vu Lan xuất phát từ sự tích Bồ tát Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Theo kinh Vu Lan, Mục Kiều Liên sau khi tu luyện thàn thông quảng đại, ông tưởng nhớ mẹ mình là bà Thanh Đề và muốn biết mẹ mình đang chịu tình cảnh thế nào. Ông dùng mắt phép tìm mẹ và thấy mẹ ông bị đày làm ngạ quỷ. Vì gây nhiều nghiệp ác nên phải xuống tận cõi quỷ. Ông đem cơm xuống tận ngã quỷ dâng cho mẹ. Mẹ ông vì chịu đói lâu ngày nên che cơm lại không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, cho nên khi cơm đến miệng đã hóa thành lửa đỏ.

Như vậy, về bản chất thì Cúng cô hồn và Lễ Vu Lan đều được gọi là rằm tháng 7 nhưng ý nghĩa của lễ cũng hoàn toàn khác nhau, nên sẽ có những cách làm lễ khác nhau mà mọi người cần chú ý.

Các bài khấn cúng rằm tháng 7

Cúng rằm tháng 7 hay còn gọi là cúng Tết Trung Nguyên. Vào ngày này có những nghi thức cúng như sau: Cúng Phật, Cúng Thần Linh, Cúng Gia Tiên, Cúng thí thực cô hồn và Cúng phóng sinh. Nhiều gia đình Việt thường cúng rằm tháng 7 vào buổi chiều tối ngày 14/7 hoặc 15/7 âm lịch. Người ta quan niệm, đây là thời gian các vong linh trở về địa ngục. Để tránh sự quấy rối của các vong linh hay cô hồn, mọi người cần phải “hối lộ” cho những vong linh đấy. Chúng ta cần nắm rõ để thực hiện chuẩn các nghi thức cúng theo đúng truyền thống văn hóa Việt Nam.

Cúng phật

Cúng và thụ lộc ngay tại nhà. Mọi người có thể chuẩn bị cơm chay hoặc đơn giản là mâm ngũ quả. Khi cúng, chúng ta sẽ đọc kinh Vu Lan.

Cúng thần linh và gia tiên

Lễ cúng này xuất phát từ quan niệm về công việc đồng áng của người nông dân trước kia. Hằng năm cứ đến tháng 6-7 âm lịch là vào đúng mùa vụ thu hoạch mùa màng. Người nông dân mong muốn những ngày này mọi việc trở nên trôi chảy, tránh sự quấy nhiễu của vong hồn, họ thường hay cầu xin thần linh, thổ địa bắt giam các yêu ma, oan hồn để tránh sự những nhiễu. Ngày 15/7, khi mọi thứ mùa vụ đã hoàn tất, người nông dân sẽ thường làm lễ cúng bái tạ ơn thần lịn và một mâm tưởng nhớ ông bà tổ tiên, cũng như cầu mong cho các cô hồn vong linh không nơi nương tựa được siêu thoát, mang lại bình yên cho mọi nhà. Mâm cơm thường là cúng chay hoặc cúng mặn tùy theo căn số của mỗi người.

Cúng thí thực cô hồn (Cúng chúng sinh)

Ngoài việc cúng Phật, cùng thần linh và gia tiên, còn một lễ nữa là cúng Cô hồn (còn gọi là cúng chúng sinh), cúng bố thí cho các cô hồn sa cơ lỡ vận không nơi nương tựa.

* Thời gian: Có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 (âm lịch).

* Sắm lễ:

Tiền vàng từ 15 lễ trở lên, quần áo chúng sinh từ 20 đến 50 bộ.

Tiền chúng sinh (tiền trinh), hoa, quả 5 loại 5 mầu (ngũ sắc).

Bỏng ngô, khoai lang luộc, ngô luộc, sắn luộc.

Kẹo bánh. Tiền mặt (tiền thật, các loại mệnh giá).

Nếu cúng thêm cháo thì thêm mâm gạo muối (5 bát, 5 đôi đũa hoặc thìa)

Chú ý: Không cúng xôi, gà. Khi rải tiền vàng ra mâm, để 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hướng từ 3-5-7 cây hương. Bày lễ và cúng ngoài trời. Cúng cô hồn chỉ cúng đồ chay, không cúng đồ mặn vì sẽ khơi gợi tham, sân, si.

Cúng cô hồn phải đặt lễ cúng trước cửa nhà hoặc nơi đang buôn bán.

Kết thúc buổi cúng ngoài trời, gạo, muối được vãi ra sân, đường, sau đó là đốt vàng mã. Một số nơi có xảy ra tình trạng cướp cỗ cô hồn, đấy được xem là “cô hồn sống”. Nếu “cô hồn sống” cướp càng nhiều thì có nghĩa là gia đình đã mua chuộc được cô hồn không đến quấy phá.

Nên cúng buổi chiều, tối và không nên cúng sau 21 giờ thì các cô hồn mới dễ nhận được đồ cúng.

Cúng chúng sinh xong, đốt đồ mã ngay tại chỗ để các cô hồn nhận và đi ngay.

Nghiêm cấm không được giật lại đồ từ “cô hồn sống”, vì giật lại sẽ mang đến những điều vô cùng xui xẻo tai hại cho gia chủ.

Văn khấn cúng cô hồn rằm tháng 7

Cúng phóng sinh

Có thể phóng sinh chim, cá, tôm, cua v.v, tuyệt đối không phóng sinh rùa tai đỏ hoặc một số sinh vật ngoại lai vì hủy hoại môi trường. Việc phóng sinh này tùy theo tín tâm và điều kiện của mỗi gia đình phật tử, không bắt buộc.

Sau khi thực hiện đầy đủ các bài khấn và nghi thức cúng rằm tháng 7, chúc gia chủ và gia đình sẽ xua đuổi được tà ma, oan hồn vất vưởng, gặp nhiều điều may mắn trong cuộc sống và công việc làm ăn.

Bài tiếp theo: Tránh 30 điều đại kỵ này để được bình an trong tháng 7 cô hồn

Ý Nghĩa Nhân Văn Của Rằm Tháng 7

Cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa nhân văn của Rằm tháng 7 .

Từ lâu, tháng 7 âm lịch gắn với lễ Vu lan báo hiếu ân đức của bậc sinh thành và tín ngưỡng tâm linh trong dân gian là ngày “xá tội vong nhân” vào dịp rằm tháng 7. Hai nét văn hóa này tuy được tổ chức cùng một ngày nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau. Một là sự báo hiếu của những người làm con đối với công ơn sinh thành của cha mẹ; còn ngày xá tội vong nhân là tục cúng, cầu siêu, độ vong cho những cô hồn không nơi tựa nương.

Từ lâu, dân gian quan niệm rằng, Rằm tháng 7, âm phủ mở cửa ngục, các linh hồn được ra ngoài, trở về nhà. Vì thế, nhà nhà làm lễ cúng, mời linh hồn người thân đã khuất trở về nhà hưởng thụ cơm canh, nhận quần áo mới, tiền bạc…Nhìn chung, trong những năm gần đây, hai nét văn hóa tuy khác nhau về tính chất nhưng đã được dân gian thực hành và gắn với sự báo hiếu, tri ân, biết ơn đấng sinh thành, dưỡng dục, nhớ về tiên tổ, những người đã khuất.

Hằng năm, cứ đến tháng 7 âm lịch, từ việc nhận thức và hiểu không rõ ý nghĩa của những phong tục, nét văn hóa của dân gian từ xa xưa đến nay diễn ra vào ngày rằm tháng 7, nên nhiều người đã sử dụng khá nhiều những thuật ngữ mang tính duy tâm, mê tín, dị đoan và từ đó, có những lời nói và hành động không đúng về giá trị tâm linh của những nét đẹp văn hóa trong tháng 7.

Cùng với việc sử dụng ngôn ngữ, nhiều người còn khuyên nhau nên kiêng kị này nọ khi bước vào mùng 1 âm lịch của tháng 7. Kiêng không nên ăn món này, món nọ. Kiêng không nên làm những việc lớn, việc nhỏ, kiêng cưới hỏi, làm nhà, kiêng xuất hành vào những giờ không đẹp, làm việc gì cũng sợ không thành…Từ đó, nhiều người nghĩ đến sự rủi ro, đen đủi sẽ đến với mình, gia đình mình trong tháng 7. Khi làm việc gì đó không thành, khi bị tai nạn, họ sẽ đổ lỗi cho “tháng cô hồn”.

Từ sự nhận thức không đầy đủ ý nghĩa, nguồn gốc và nét đẹp nhân văn của ngày Rằm tháng 7 cùng với “sự sáng tạo” ra kiểu giao tiếp, phát ngôn gắn với “cô hồn” đã ít nhiều tạo nên một tâm lý nặng nề của một bộ phận người dân trong đời sống xã hội, đó là sự lo lắng, kiêng dè, sợ sệt khiến nhiều người trở nên mê tín quá mức. Hơn nữa, vì lo lắng, kiêng không làm việc lớn trong tháng 7 nên nhiều người, nhiều gia đình sẽ bỏ mất những cơ hội tốt trong cuộc sống, ảnh hưởng không tốt tới tương lai với bao dự định. Việc sử dụng ngôn ngữ “cô hồn” của giới trẻ đã mang đến không gian sống một sự chết chóc vô hình nào đó, ít nhiều làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

Trong khi đó, giá trị nhân văn của lễ Vu lan báo hiếu và tục cúng chúng sinh, cúng tổ tiên vào ngày Rằm tháng 7 lại được rất ít người nhắc đến. Chủ yếu những người cao tuổi, những phật tử quan tâm đến việc chuẩn bị cho hoạt động văn hóa này, còn một bộ phận giới trẻ thì không thấy nhắc nhiều đến Vu lan, báo hiếu và dự định cho mình một việc làm thật ý nghĩa để đền đáp ơn nghĩa đấng sinh thành.

Sư thầy Thích An Ninh, Trụ trì chùa Trúc Lâm (xã Ấm Hạ, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ) cho biết: “Ngày rằm tháng 7 mang nét đẹp văn hóa cổ truyền của người dân Việt Nam. Nét đẹp đó ảnh hưởng rất rõ nét trong cuộc sống hôm nay. Đó là dịp để những người con báo hiếu cha mẹ, tưởng nhớ đến những người thân đã khuất, cứu độ chúng sinh, chung tay giúp đỡ những người cơ nhỡ, không nơi nương tựa. Không nên hiểu đây là tháng đen đủi và tai ương”.

Thiết nghĩ, mọi sự may – rủi, thành – bại, được – mất là những điều thường trực diễn ra trong cuộc sống hằng ngày và đều do chính bản thân mỗi người làm nên.Chúng ta không nên vận những điều may rủi hay tai ương vào tháng 7, không nên gắn tháng này với hồn ma, chết chóc. Mỗi người cần nhận thức sâu sắc và đầy đủ ý nghĩa nhân văn của Rằm tháng 7 để có những việc làm, những hành động cụ thể, thiết thực báo hiếu cha mẹ, các đấng sinh thành. Cần loại bỏ các thuật ngữ, khẩu ngữ “cô hồn” tự tạo để tránh việc làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt./.

Rằm Tháng 7 Là Ngày Gì? Sự Tích Và Ý Nghĩa Lễ Vu Lan Báo Hiếu Rằm Tháng 7

Rằm tháng 7 là ngày gì?

Rằm tháng 7 (hay còn gọi là lễ Vu Lan) là ngày lễ để con cái báo đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, tìm về cội nguồn yêu thương, thường được tổ chức vào ngày rằm tháng 7 Âm lịch hằng năm và đây là ngày truyền thống lâu đời của người Việt Nam.

Sự tích và ý nghĩa của ngày rằm tháng 7

Nguồn gốc của ngày lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ của mình khỏi kiếp ngạ quỷ nơi địa ngục. Mẹ của Mục Kiền Liên là một người sống rất xa hoa, tham lam, độc ác và không tin vào Tam Bảo. Thường ngày, bà nấu rất nhiều thức ăn và làm vương vãi khắp nơi trên mặt đất. Còn cậu bé Mục Kiền Liên – con trai của bà có tính tình hiền lành, chịu khó, trái ngược hoàn toàn với mẹ cậu. Cậu bé luôn nhặt lại những hạt cơm của mẹ làm rơi xuống, rửa sạch đi rồi ăn lại chúng. Vì vậy, tất cả mọi người xung quanh và quen biết đều rất yêu mến, khen ngợi cậu hết lời. Sau khi bà Thanh Đề qua đời, Mục Kiền Liên đã xin xuất gia theo học Phật và trở thành đệ tử của Đức Phật. Khi có được phép thuật, Mục Kiền Liên liền dùng tuệ nhãn để tìm mẹ khắp nơi trong trời đất, cuối cùng cậu đã thấy mẹ nơi đại địa ngục.

Mục Kiền Liên trông thấy mẹ tóc tai rối xù, thân hình chỉ còn da bọc xương, đói khát, úp mặt xuống đất không thể ngưỡng nổi đầu lên. Mục Kiền Lên đau xót vô cùng, ôm mẹ bật khóc rồi dâng cho mẹ một bát cơm ăn cho đỡ đói. Thế nhưng, bà Thanh Đề vẫn còn quá sân tham, vì vậy khi đưa cơm đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa đỏ, không thể ăn được. Mục Kiền Liên đã bất lực khi nhìn thấy cảnh này, cậu càng đau xót khi không thể cứu được mẹ mình và quay về tìm sự giúp đỡ của Đức Thế Tôn.

Đức Phật nói nếu muốn cứu mẹ thoát khỏi kiếp đọa đày, được sanh về cõi lành thì ngày 15 tháng 7 Âm lịch tức là ngày Tự Tứ của chư Tăng, cậu hãy mời tất cả các nhà sư lại và sắm sửa làm lễ cúng dường Tam Bảo để lấy phước cứu mẹ. Từ đó, ngày rằm tháng Bảy Âm lịch hằng năm trở thành ngày tri ân, báo hiếu trong Phật giáo.

Do vậy, ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan chính là ngày để tưởng nhớ công ơn của cha mẹ và tổ tiên nhiều đời nhiều kiếp của mỗi con người chúng ta. Hay có thể hiểu đơn giản, Vu Lan chính là báo hiếu và không chỉ với cha mẹ ở kiếp này mà còn là đối với cha mẹ nhiều kiếp trước nữa, đồng thời cũng là dịp để bày tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và đền đáp công ơn nuôi dạy của cha mẹ. Đây là truyền thống nhắc nhở mỗi con người “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Ý nghĩa của bông hồng cài trên ngực áo

Trước đây, ngày lễ Vu Lan báo hiếu được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch, tuy nhiên nhiều năm trở lại đây thì nó đã trở thành một đại lễ, được nhiều nơi tổ chức kéo dài suốt cả tháng 7 Âm lịch.

Nghi thức “bông hồng cài áo” chính là để tưởng nhớ những người mẹ đã tạ thế và đồng thời tôn vinh những người mẹ còn lại trên thế gian này. Trong nghi thức buổi lễ, các Phật tử với hai giỏ hoa hồng bên người, một giỏ màu đỏ và một giỏ là màu trắng, sẽ được cài lên áo của những người đến chùa tham dự lễ. Như chúng ta đã biết, hoa hồng chính là biểu tượng cho sự cao quý và một tình yêu bất diệt. Theo như lời Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm thì lúc đầu nghi thức này chỉ sử dụng hoa hồng màu đỏ, nhưng về sau một số nơi bắt đầu phân chia ra thành nhiều màu sắc hoa hồng khác nhau. Nếu người nào không còn cha mẹ thì cài hoa hồng màu trắng, người nào còn đầy đủ cha mẹ thì cài hoa hồng màu đỏ và người nào chỉ còn mỗi cha hoặc mẹ thì sẽ cài hoa hồng nhạt màu hơn.

Lễ Vu Lan nên làm gì?

Ăn chay, niệm Phật, cầu an cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ

Ăn chay là một tập tục quen thuộc của người dân Việt Nam chúng ta. Ăn chay có nghĩa là không sát sinh, đưa con người về chốn thanh tịnh, đúng với bản ngã của mình. Do vậy, bạn hãy ăn chay và thành tâm cầu nguyện cho cha mẹ của mình. Điều này còn giúp những người đã khuất thì sẽ được yên bình nơi chín suối và cha mẹ còn trên đời sẽ được khỏe mạnh, vui vẻ và bình an.

Quan tâm, hỏi han cha mẹ thường xuyên

Khi con người ta càng trưởng thành, họ sẽ càng khó để nói ra những lời yêu thương, quan tâm đến bố mẹ của mình. Nếu như ngày thường bạn bận rộn với công việc và không có thời gian hỏi han cha mẹ thì vào ngày lễ này hãy dành thời gian quan tâm và hỏi han họ nhiều hơn, chẳng hạn như những câu đơn giản về cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.

Chuẩn bị mâm cơm tươm tất

Mâm cúng lễ Vu Lan bạn nên chuẩn bị đồ chay để dâng lên Thần Phật, gia tiên nhằm tỏ lòng thành kính và báo hiếu. Mâm cỗ không cần quá hoành tráng mà quan trọng là phải phù hợp với hoàn cảnh gia đình, có thể chỉ đơn giản là xôi, bánh chưng, giò…

Đến chùa thắp hương cầu nguyện và nghe các vị trụ trì thuyết giảng giáo lý.

Tham dự lễ Vu Lan và cài hoa lên ngực áo để tưởng nhớ công ơn của đấng sinh thành.

Thả phóng sinh, làm nhiều việc thiện.

Ý Nghĩa Rằm Tháng Giêng, Tháng 7 Và Tháng 10 Trong Phật Giáo!

Một năm, dân gian có ba ngày rằm chính. Đó là: Rằm tháng giêng, Rằm tháng bảy và Rằm tháng mười. (Thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên.)

Từ ý nghĩa ban đầu của ý nghĩa lễ hội “rằm tháng Mười”, nhân Tết Hạ nguyên, cha mẹ chính là người thầy dạy con cái phải biết làm việc thiện lành, từ bỏ điều quấy ác, vì những ngày này Thiên đình cử thần Tam Thanh xuống trần gian xem xét việc tốt lành về tâu với Ngọc Hoàng để được ban thưởng và tránh tai họa về sau.

Do đó, rằm tháng Mười hàng năm được tổ chức trọng thể, không chỉ ở trong mái ấm gia đình mà nó đã lan tỏa vào trong khuôn viên nhà chùa.

“Mỗi người mỗi nước, mỗi non

Khi vào cửa Phật, chung con một nhà”.

Đạo Phật là đạo hiếu, hạnh hiếu là hạnh Phật. Không phải ngẫu nhiên, một thuở nọ, Đức Phật cùng các Tỷ kheo trên đường đi hoằng pháp, Ngài dừng lại để đảnh lễ đống xương khô bên đường và dạy rằng:

“Vô thỉ luân hồi, chúng sinh từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em trong dòng sống tương tục”.

Dưới sự chứng minh của chư Phật mười phương, chín phương trời, chư Thánh thần, Hoàng thiên Hậu thổ, Bản cảnh Thành hoàng, Bản xứ thổ địa, Bản gia táo quân, Tôn thần, tổ tiên ông bà thì mỗi cá nhân đã thực sự hiểu rõ và sống theo đạo lý Duyên khởi, cội nguồn đạo hiếu, tri ân và biết ân thì họ đang an trú trong thế giới an lạc, hạnh phúc.

“Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp

Ai thấy Pháp thì sẽ chứng ngộ Niết bàn”.

Xuất phát từ lòng biết ơn và tri ân chư Phật, Thánh hiền, ông bà tổ tiên và mọi chúng sinh hiện hữu khắp pháp giới, thông qua lễ hội rằm tháng Mười, mỗi người tự nguyện hứa với lòng mình, tự nguyện thực thi hạnh nguyện sống theo nếp sống hướng thiện cao quý, mong sao được thành tựu trước sự chứng minh của chư Phật, Thánh thần, tổ tiên trong không khí trang nghiêm của mái chùa quê hương thân thương:

“Nay nhân mùa gặt hái

Gánh nếp tẻ đầu mùa

Nghĩ đến ơn xưa

Cày bừa vun xới

Sửa nồi cơm mới

Kính cẩn dâng lên”.

Phật giáo có chung một ngày rằm với dân gian, đó là ngày rằm tháng bảy hằng năm. Tất cả những ngày mồng một và ngày rằm trong năm, Phật giáo đều gọi là ngày Sóc và ngày Vọng (dùng theo danh từ Phật học). Chư Tăng dùng hai ngày này để bố tát và tụng giới, tùy theo khả năng và cấp bậc đã phát nguyện vâng giữ. Phật tử cũng tùy theo giới luật đã cầu thọ của mình, nương theo chư Tăng để được học giới, tụng giới và tiến tu. Vì, Phật pháp không xa rời thế gian pháp (Phật pháp bất ly thế gian pháp), Phật pháp lấy “dĩ huyễn độ chơn”, nên không lạ gì trong chốn già lam thường tổ chức những ngày lễ như rằm tháng giêng hay rằm tháng mười.

Tâm nguyện của chư vị Bồ tát thường chủ trương rằng:

– Chính ta không vào địa ngục thì ai là người vào địa ngục để thuyết giáo cho chúng sanh đang trầm luân, đọa lạc?

Với tâm niệm và hạnh nguyện cứu khổ ban vui đại bi tâm của Đại thừa Phật giáo khai phương tiện như thế, cho nên, chốn già lam tùy duyên hóa độ bằng cách tùy theo niềm tin của lớp đại đa số quần chúng sơ cơ học đạo giải thoát mà tổ chức các buổi lễ lạc, không ngoài mục đích chính là hướng dẫn chúng sanh quay về bờ giác …

Rằm tháng giêng, là ngày rằm đầu tiên trong năm, dân chúng dùng để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình cả năm đều được như ý về mọi mặt. . Họ sắm lễ vật để cầu an, dương sao, giải hạn. Vùng nào có chùa thì cùng nhau vào chùa để nhờ quý sư sãi lập đàn cầu nguyện.

Ngày rằm tháng bảy, các gia đình đều có sắm lễ vật y như trong kinh Báo hiếu Phụ mẫu trọng ân, kinh Vu lan… để cúng dường Tam bảo, chư Tăng, ông bà tổ tiên và cha mẹ hiện đang tại thế hay quá vãng. Không những thế, họ theo chư Tăng để lập đàn tràng cúng cho Thập loại chúng sanh, khi sống thì không được no đủ, khi chết thì gặp phải cảnh bất trắc….. Họ cần phải được cầu nguyện, cần phải được cúng cấp theo niềm tin của quần chúng để các âm linh khỏi bị đói khát, lạnh lẽo khổ sở.

Rằm tháng Mười là Lễ tạ ơn – là một trong bốn ơn của Phật giáo mà đức Phật đã dạy khi ngài còn tại thế. Sau khi cúng tạ ơn trời đất xong, cả gia đình sum họp quanh bếp lửa hồng của mùa đông giá rét với một bữa no đủ, ấm cúng. Dân chúng ai ai cũng có thu hoạch được một số thực phẩm trong vụ tháng tám vừa rồi, mọi nhà đều cúng lễ tạ ơn .

Như vậy, ngày rằm trọng đại hơn hết là ngày Rằm tháng Bảy. Bởi vì đạo Phật là đạo Hiếu. Nói đến hạnh Phật là nói đến hạnh Hiếu. Là người Phật tử chơn chánh, ơn nhỏ đã không quên thì ơn lớn sẽ không bao giờ quên. Vì ơn cha mẹ, ông bà tổ tiên là một trong bốn ơn lớn mà đức Thế tôn Thích Ca Mâu Ni Từ phụ đã răn dạy cho hàng đệ tử của ngài, dù là xuất gia hay tại gia.

Đó là tứ ân: tức ơn Tam bảo , ơn cha mẹ, ơn thầy tổ và đàn na tín chủ và ơn quốc gia xã hội, sơn hà xã tắc, thiên địa phú tãi.

Người học Phật phải biết rõ và mãi ghi nhớ bốn ơn nầy.

Ngày rằm tháng 7 mang một ý nghĩa trọng đại và vô cùng thâm thúy.

Ngày của ơn trả nghĩa đền. Ngày của con thảo cháu hiền phải nghĩ đến ân đức sanh thành dưỡng dục.

Ngày cầu nguyện để cứu độ cho thân nhân đã khuất bóng nếu bị nghiệp duyên ràng buộc thì sớm được nhẹ nghiệp và hết nghiệp để được vãng sanh về cảnh giới an lạc, sớm được giải thoát.

Ngày cúng nguyện cho hàng thập loại chúng sanh không may tạo nghiệp đang bị đọa lạc trong chín tầng địa ngục được no đủ và sớm thoát nghiệp.

Ngày của chiến sĩ trận vong.

Đối với Tam bảo: Đó là ngày Phật hoan hỷ, ngày chúng Tăng hoan hỷ, ngày phước đức của người con Phật… .

Mùa đại lễ Vu lan – Báo hiếu đề cao công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ trong suốt cuộc đời và nhắc nhở đạo làm con phải giữ tròn chữ hiếu.

Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha

Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Mang cả tấm thân gầy, cha che chở đời con

Ai còn mẹ – xin đừng làm mẹ khóc

Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe con

Một người phụ nữ đã mất mẹ đến dự lễ chùa ngỡ ngàng hạnh phúc khi được cài hoa hồng trên ngực áo, và thốt lên khi được nghe các sư thầy lý giải: “Đúng rồi, tôi vẫn còn có cha. Còn may mắn hơn bao người bất hạnh mồ côi cha lẫn mẹ”.

Ngoài ra, Đại lễ Rằm Tháng Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang hai ý nghĩa: (1) kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già. (2) kỷ niệm đánh dấu ngày Đức Phật công bố Giáo Pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa (tháng tư)

Thánh Hội Tăng Già là một sự cố hy hữu xảy ra duy nhất một lần trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thuở ấy, Đức Điều Ngự đang trú ở chùa Trúc Lâm tại thành Ràjagaha. Đó ngày trăng Rằm tháng Magha (tháng Giêng). Mặc dù không một lời mời nào, 1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của Đức Phật: “ehi bhikkhu – thiện lai tỳ kheo”. Những bậc phước huệ vẹn toàn đó đã ngồi vây quanh dưới chân của Đấng Đại Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết. Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên bởi con người giác ngộ cho một hội chúng giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền khóang hậu.

Rằm Tháng Giêng cũng kỷ niệm ngày Đức Phật tuyên bố đạo tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng đạo, đức Phật kết thúc năm sau cùng bằng cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80 tuổi. Con đường từ Ràjagaha về Kusinara ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại Vesalì, Đức Điều Ngự “với cái nhìn của con voi chúa” đưa mắt quanh núi đồi thanh tú của xứ Vajji lần sau cùng. Buổi trưa hôm đó tôn giả Ananda vị thị giả của đức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển mạnh của một cơn động đất trong khi đang thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Đạo Sư và từ kim khẩu của Phật tôn giả được biết rằng Đức Phật đã quyết định sẽ viên tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được nước mắt, người đệ tử trung kiên này đã khẩn cầu đức Phật trụ thế lâu hơn. Đức Phật ôn tồn: Hỡi Ananda, các con còn chờ đợi gì nữa ở Như Lai. Giáo pháp đã được truyền dạy đầy đủ không có gì giấu kín. Bốn chúng đệ tử đã được hướng dẫn đầy đủ trong việc tu học. Pháp và Luật đã được giảng giải tường tận. Rất dễ dàng cho hậu thế chia sẻ tâm trạng của tôn giả Ananda nhưng cũng không thể quên rằng sự hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của Đức Phật là một sự kiện thiêng liêng để kỷ niệm.

Rằm Tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo – Dhamma Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo (Lễ Kathina tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của giáo Pháp nên đại lễ này được gọi là Ngày Pháp Bảo.

Ngày Rằm tháng Giêng hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, là một trong những ngày rất quan trọng theo lịch âm của người Việt Nam. Việc cúng lễ trong ngày này phần lớn được tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngày này, người Việt thường đi chùa lễ Phật để cầu mong quanh năm an lành cho bản thân và gia đình. Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Lễ rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn; những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày rằm tháng Giêng mới lên đường; những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khỏe mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn Tết bù…